Điều 5. Mức trích phí đấu giá và phí tham gia đấu giá tài sản
1. Phí đấu giá và phí tham gia đấu giá tài sản thuộc ngân sách nhà nước
a) Hội đồng bán đấu giá tài sản các cấp: Kinh phí đảm bảo cho hoạt động của Hội đồng bán đấu giá tài sản các cấp được đảm bảo từ nguồn thu theo quy định tại Điều 12 Thông tư số 137/2010/TT-BTC ngày 15/9/2010 của Bộ Tài chính, sử dụng để trang trải các chi phí cho Hội đồng bán đấu giá tài sản theo các nội dung chi quy định tại Điều 13 Thông tư số 137/2010/TT-BTC ngày 15/9/2010 của Bộ Tài chính. Sau khi thanh toán chi phí cho việc tổ chức bán đấu giá, số tiền còn lại chưa chi hết được nộp vào ngân sách nhà nước.
Trường hợp không đủ để chi theo thực tế thì Hội đồng bán đấu giá tài sản lập dự toán kinh phí bổ sung, gửi cơ quan ra quyết định thành lập Hội đồng bán đấu giá tài sản phê duyệt bổ sung theo quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 15 Thông tư số 137/2010/TT-BTC ngày 15/9/2010 của Bộ Tài chính.
Trường hợp thiếu thì ngân sách nhà nước hỗ trợ phần chi phí đó theo nguyên tắc sau:
- Khoản thu giá trị tài sản bán được thuộc điều tiết ngân sách cấp nào thì ngân sách cấp đó có trách nhiệm đảm bảo kinh phí hỗ trợ.
- Số tiền hỗ trợ là khoản chênh lệch giữa chi phí thực tế, hợp lý phục vụ cho việc tổ chức bán đấu giá (có hóa đơn, chứng từ hợp pháp) trừ đi số phí thu được.
b) Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản: Được trích để lại 60% tổng số tiền phí thu được trong kỳ để trang trải chi phí cho việc tổ chức bán đấu giá, số còn lại 40% nộp vào ngân sách nhà nước theo đúng chương, loại, khoản, mục, tiểu mục theo mục lục ngân sách nhà nước hiện hành.
2. Phí đấu giá và phí tham gia đấu giá tài sản không thuộc ngân sách nhà nước
Đối với Doanh nghiệp bán đấu giá tải sản, số tiền phí đấu giá và phí tham gia đấu giá tài sản thu được là khoản thu của đơn vị. Doanh nghiệp thu phí có nghĩa vụ nộp thuế đôi với khoản phí thu được theo quy định hiện hành.