vanban.org

Điều 5. Cơ chế phối hợp giữa Văn phòng đăng ký cấp huyện với các cơ quan có liên quan — Quyết định 44/2010/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 30/04/2023 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 30/04/2023 Hết hiệu lực (một phần/toàn bộ): 35/2023/QĐ-UBND · 14/04/2023
Lâm Đồng Ban hành 09/12/2010 Hiệu lực 19/12/2010 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 phiên bản · 15 năm
Quyết định số 44/2010/QĐ-UBND Về việc ban hành quy định về cơ chế phối hợp, cung cấp thông tin giữa các cơ quan trong việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và quản lý hồ sơ trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng · 44/2010/QĐ-UBND
30/04/202335/2023/QĐ-UBNDBãi bỏ Đang xem 19/12/2010Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 44/2010/QĐ-UBND › Chương II › Điều 5
Đọc toàn văn

Điều 5. Cơ chế phối hợp giữa Văn phòng đăng ký cấp huyện với các cơ quan có liên quan

1. Giữa Văn phòng đăng ký cấp huyện với cơ quan quản lý nhà nước về nhà ở, công trình xây dựng, nông nghiệp cấp huyện.

a) Trong quá trình kiểm tra hồ sơ cấp Giấy chứng nhận, trường hợp cần thiết xác minh thêm thông tin về điều kiện chứng nhận quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất thì Văn phòng đăng ký cấp huyện gửi phiếu lấy ý kiến đến cơ quan quản lý nhà nước về nhà ở, công trình xây dựng, nông nghiệp cấp huyện.

b) Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được phiếu lấy ý kiến của Văn phòng đăng ký cấp huyện thì cơ quan quản lý nhà nước về nhà ở, công trình xây dựng, nông nghiệp cấp huyện có trách nhiệm trả lời bằng văn bản cho Văn phòng đăng ký cấp huyện.

c) Hàng tháng, Văn phòng đăng ký cấp huyện có trách nhiệm gửi bản sao (đóng dấu của Văn phòng đăng ký cấp huyện) đối với Giấy chứng nhận có nội dung chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, công trình xây dựng, rừng sản xuất là rừng trồng để gửi cho cơ quan quản lý nhà nước về nhà ở, công trình xây dựng, nông nghiệp cấp huyện để đáp ứng yêu cầu quản lý Nhà nước của từng ngành.

2. Giữa Văn phòng đăng ký cấp huyện với Chi cục Thuế

a) Trong quá trình thực hiện việc cấp Giấy chứng nhận cần phải xác định nghĩa vụ tài chính để người sử dụng đất, sở hữu tài sản gắn liền với đất thực hiện thì Văn phòng đăng ký cấp huyện gửi phiếu chuyển thông tin địa chính đến Chi cục Thuế.

b) Trong quá trình thực hiện việc cấp Giấy chứng nhận nếu cần phải xác định nghĩa vụ tài chính để người sử dụng đất, sở hữu tài sản gắn liền với đất thực hiện thì Văn phòng đăng ký cấp huyện gửi phiếu chuyển thông tin địa chính đến Chi cục Thuế các huyện, thành phố.

c) Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được phiếu chuyển thông tin địa chính của Văn phòng đăng ký cấp huyện thì Chi cục Thuế các huyện, thành phố có trách nhiệm xác định nghĩa vụ tài chính mà người sử dụng đất, sở hữu tài sản gắn liền với đất phải nộp. Chi cục Thuế thông báo cho người sử dụng đất, sở hữu tài sản gắn liền với đất để thực hiện nộp tiền vào ngân sách nhà nước, đồng thời gửi cho Văn phòng đăng ký cấp huyện 01 bản để theo dõi.

d) Định kỳ hàng tháng, Văn phòng đăng ký cấp huyện và Chi cục Thuế các huyện, thành phố phải thực hiện việc kiểm tra, đối chiếu số hồ sơ về nghĩa vụ tài chính để phát hiện các trường hợp còn tồn đọng, chưa giải quyết để làm rõ nguyên nhân và đề ra phương án xử lý.

3. Giữa Văn phòng đăng ký cấp huyện với Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn.

a) Đối với trường hợp người sử dụng đất nộp hồ sơ tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn thì trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn có trách nhiệm thực hiện các công việc theo quy định tại khoản 2 Điều 14, khoản 2 Điều 15, khoản 2 Điều 16 và khoản 2 Điều 17 của Nghị định số 88/2009/NĐ-CP ngày 19 tháng 10 năm 2009 về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và chuyển hồ sơ cho Văn phòng đăng ký cấp huyện.

b) Đối với trường hợp người sử dụng đất nộp hồ sơ tại Văn phòng đăng ký cấp huyện:

- Trong thời hạn 04 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ Văn phòng đăng ký cấp huyện gửi hồ sơ đến Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn để lấy ý kiến xác nhận và công khai kết quả theo yêu cầu quy định.

- Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ cấp Giấy chứng nhận từ Văn phòng đăng ký cấp huyện thì Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn phải thực hiện các bước công việc quy định tại điểm a khoản 3 Điều này và chuyển lại hồ sơ cho Văn phòng đăng ký cấp huyện.

- Văn phòng đăng ký cấp huyện thực hiện việc kiểm tra, xác minh đủ điều kiện hay không đủ điều kiện và xác nhận vào đơn đề nghị cấp Giấy chứng nhận. Văn phòng đăng ký cấp huyện chuẩn bị hồ sơ để Phòng Tài nguyên và Môi trường trình Ủy ban nhân dân cùng cấp ký Giấy chứng nhận.

- Văn phòng đăng ký cấp huyện trao Giấy chứng nhận cho người được cấp giấy; trường hợp nộp hồ sơ tại xã, phường, thị trấn thì gửi Giấy chứng nhận cho Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn để trao cho người được cấp giấy.

c) Định kỳ hàng tháng, Văn phòng đăng ký cấp huyện và Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn phải thực hiện việc kiểm tra, đối chiếu số hồ sơ luân chuyển giữa giao và nhận để phát hiện các trường hợp còn tồn đọng. Trong số hồ sơ còn tồn đọng chưa giải quyết thì hai cơ quan phối hợp với nhau để làm rõ nguyên nhân tồn đọng, chậm trễ của từng hồ sơ và đề ra phương án xử lý.

4. Đối với việc cấp Giấy chứng nhận cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài được nhận quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam thì trong thời hạn ba (03) ngày làm việc kể từ ngày trao Giấy chứng nhận, Văn phòng đăng ký cấp huyện có trách nhiệm gửi bản sao Giấy chứng nhận (đóng dấu của Văn phòng Đăng ký cấp huyện) gửi về Trung tâm Thông tin Đăng ký quyền sử dụng đất tỉnh để lập danh sách gửi về Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Xây dựng để đưa lên trang Web của Bộ phục vụ yêu cầu quản lý.