Điều 9. Trách nhiệm của các Sở, Ban, Ngành, Ủy ban nhân dân các cấp:
1. Sở Tài nguyên và Môi trường:
- Hướng dẫn tổ chức, cá nhân lập hồ sơ xin cấp phép;
- Tiếp nhận hồ sơ; tổ chức lấy ý kiến trao đổi của các Sở, Ban, Ngành địa phương về các vấn đề liên quan (nếu thấy cần thiết) và thẩm định hồ sơ trình Ủy ban nhân dân tỉnh cấp giấy phép theo thẩm quyền;
- Vào sổ đăng ký giấy phép, sổ đăng ký công trình khai thác tài nguyên nước và lưu giữ hồ sơ theo quy định;
- Tổ chức thanh tra, kiểm tra hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước và hành nghề khoan nước dưới đất thuộc mọi đối tượng phải xin phép, phải đăng ký, không phải xin phép. Xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm theo Nghị định số 34/2005/NĐ-CP ngày 17 tháng 3 năm 2005 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước;
- Tham mưu ủy ban nhân dân tỉnh trong việc lập quy hoạch, kế hoạch quản lý, tổ chức tuyên truyền, phổ biến pháp luật về tài nguyên nước nhằm bảo vệ, khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên nước, phục vụ đời sống sinh hoạt và sản xuất kinh doanh của nhân dân, cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh;
- Kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ quản lý Nhà nước về tài nguyên nước và những nhiệm vụ cụ thể được Ủy ban nhân dân tỉnh phân cấp cho Ủy ban nhân dân huyện, thành phố và Ủy ban nhân dân phường, xã, thị trấn về hoạt động tài nguyên nước; kiểm tra và phối hợp kiểm tra việc tuân thủ các quy định pháp luật của các tổ chức, cá nhân hoạt động tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh;
- Thực hiện chế độ báo cáo đột xuất, báo cáo định kỳ sáu tháng đầu năm vào ngày 15 tháng 6, cả năm vào ngày 15 tháng 12 cho Ủy ban nhân dân tỉnh, Cục Quản lý tài nguyên nước về tình hình quản lý, cấp phép hoạt động tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh.
2. Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố:
- Chỉ đạo phòng Tài nguyên và Môi trường thực hiện tốt công tác tiếp nhận đăng ký và theo dõi hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước, đề ra các phương pháp quản lý thuận tiện nhất tránh gây phiền hà cho nhân dân;
- Tổ chức thanh tra, kiểm tra và xử lý các hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước và hành nghề khoan nước dưới đất xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm theo Nghị định số 34/2005/NĐ-CP ngày 17 tháng 3 năm 2005 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước;
- Tổ chức tuyên truyền và thực hiện các biện pháp nhằm bảo vệ nguồn nước; phòng, chống, khắc phục hậu quả do nước gây ra, kết hợp với việc bảo vệ môi trường, tài nguyên thiên nhiên khác;
- Thực hiện chế độ báo cáo đột xuất, báo cáo định kỳ sáu tháng đầu năm vào ngày 10 tháng 6, cả năm vào ngày 10 tháng 12 cho Ủy ban nhân dân tỉnh, Sở Tài nguyên và Môi trường về tình hình khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước và hành nghề khoan nước dưới đất trên địa bàn mình quản lý.
3. Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn:
- Tổ chức kê khai, lập sổ sách theo dõi các công trình khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước trên địa bàn. Thống kê chi tiết theo từng đối tượng khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước không phải xin phép; những trường hợp không phải xin phép nhưng phải làm thủ tục đăng ký với cơ quan quản lý nhà nước;
- Phân công cán bộ chịu trách nhiệm kiểm tra, giám sát và xác nhận việc lấp giếng khai thác nước dưới đất khi không còn sử dụng;
- Tham gia công tác hòa giải, giải quyết khiếu nại, tố cáo, tuyên truyền, phổ biến pháp luật về tài nguyên nước xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền xử lý các trường hợp vi phạm pháp luật về hoạt động tài nguyên nước tại địa phương theo quy định của pháp luật;
- Thực hiện chế độ báo cáo đột xuất, báo cáo định kỳ sáu tháng đầu năm vào ngày 5 tháng 6, cả năm vào ngày 5 tháng 12 cho Ủy ban nhân dân huyện, thành phố về tình hình quản lý hoạt động tài nguyên nước trên địa bàn mình quản lý.