vanban.org

Điều 21. Trách nhiệm của các cơ quan trong việc phối hợp xử lý vi phạm — Quyết định 42/2024/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Còn hiệu lực · từ 29/07/2024 Phiên bản mới nhất trong dòng đời trên hệ thống Không bị thay thế bởi văn bản nào
Hồ Chí Minh Ban hành 19/07/2024 Hiệu lực 29/07/2024 Còn hiệu lực
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 42/2024/QĐ-UBND › Chương II › Điều 21
Đọc toàn văn

Điều 21. Trách nhiệm của các cơ quan trong việc phối hợp xử lý vi phạm

Cơ quan đầu mối chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan tham mưu, báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố quyết định áp dụng các biện pháp xử lý vi phạm theo quy định tại Điều 17 Quy định về hỗ trợ lãi suất đối với Chủ đầu tư có hành vi vi phạm như sau:

1. Áp dụng biện pháp tạm dừng giải ngân kinh phí hỗ trợ lãi suất và không xem xét hồ sơ đăng ký hỗ trợ lãi suất cho đến khi khắc phục được hành vi vi phạm đối với Chủ đầu tư có hành vi vi phạm:

a) Triển khai thực hiện dự án không đúng mục đích, nội dung đã được Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố phê duyệt mà không kịp thời báo cáo cơ quan đầu mối về các vấn đề phát sinh trong quá trình triển khai dự án liên quan đến nội dung đã được phê duyệt theo quy định tại khoản 1 Điều 16 Quy định về hỗ trợ lãi suất.

b) Không thực hiện hoặc thực hiện không đúng quy định tại khoản 4 Điều 16 Quy định về hỗ trợ lãi suất.

c) Không thực hiện hoặc thực hiện không đúng quy định báo cáo định kỳ tại khoản 4 Điều 20 Quyết định này.

Tùy vào tính chất, mức độ hành vi vi phạm, cơ quan đầu mối chủ trì, phối hợp Sở Tài chính, Kho bạc Nhà nước Thành phố và các cơ quan có liên quan tham mưu Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố thời gian tạm dừng giải ngân kinh phí hỗ trợ lãi suất cho đến khi Chủ đầu tư khắc phục được vi phạm.

2. Áp dụng biện pháp chấm dứt hỗ trợ lãi suất trước thời hạn và không xem xét hồ sơ đăng ký hỗ trợ lãi suất cho đến khi khắc phục được hành vi vi phạm đối với Chủ đầu tư có hành vi vi phạm:

Quá 12 tháng kể từ ngày Quyết định phê duyệt hỗ trợ của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố có hiệu lực thi hành, Chủ đầu tư chưa triển khai thực hiện dự án và không báo cáo lý do chưa triển khai thực hiện dự án.

3. Áp dụng biện pháp thu hồi kinh phí hỗ trợ lãi suất đã nhận và lãi phát sinh trên kinh phí hỗ trợ lãi suất đã nhận tính từ thời điểm giải ngân cho đến khi hoàn trả đủ kinh phí hỗ trợ và không xem xét hồ sơ đăng ký hỗ trợ lãi suất cho dự án khác đối với Chủ đầu tư có hành vi vi phạm:

a) Không khắc phục hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều này sau khi đã áp dụng biện pháp tạm dừng giải ngân kinh phí hỗ trợ lãi suất.

b) Vi phạm quy định tại khoản 6 Điều 16 Quy định về hỗ trợ lãi suất.

c) Quá 03 tháng kể từ ngày Kho bạc Nhà nước Thành phố Hồ Chí Minh thông báo kết thúc thời gian hỗ trợ mà không lập hồ sơ đề nghị quyết toán kinh phí đã được ngân sách Thành phố hỗ trợ cho dự án.

4. Chủ đầu tư được tiếp tục xem xét hồ sơ đăng ký hỗ trợ lãi suất cho dự án khác theo Quy định về hỗ trợ lãi suất sau khi chấp hành xong biện pháp xử lý vi phạm và khắc phục hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 và 2 Điều này.

5. Trường hợp hành vi vi phạm của Chủ đầu tư không thuộc diện quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này thì cơ quan đầu mối thực hiện theo thẩm quyền theo quy định của pháp luật hoặc chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố xem xét, chỉ đạo giải quyết.