Điều 9. Bồi thường, hỗ trợ thiệt hại đối với đất thuộc hành lang bảo vệ an toàn công trình, khu vực bảo vệ, vành đai an toàn khi xây dựng công trình, khu vực có hành lang bảo vệ an toàn
1. Việc bồi thường, hỗ trợ thiệt hại đối với đất, tài sản gắn liền với đất thuộc hành lang bảo vệ an toàn công trình, khu vực bảo vệ, vành đai an toàn khi xây dựng công trình, khu vực có hành lang bảo vệ an toàn được thực hiện theo Điều 18 Nghị định số 88/2024/NĐ-CP.
2. Trường hợp không làm thay đổi mục đích sử dụng đất nhưng làm hạn chế khả năng sử dụng đất theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 18 Nghị định số 88/2024/NĐ-CP thì đơn giá bồi thường thiệt hại bằng 40% (bốn mươi phần trăm) đối với đất nông nghiệp và 80% (tám mươi phần trăm) đối với đất phi nông nghiệp trên diện tích đất trong hành lang bảo vệ an toàn đối với các công trình không thuộc quy định tại khoản 3 Điều này.
3. Bồi thường thiệt hại do hạn chế khả năng sử dụng đối với đất trong hành lang bảo vệ an toàn đường dây dẫn điện cao áp trên không
a) Đối với đất phi nông nghiệp, mức bồi thường thiệt hại do hạn chế khả năng sử dụng đất không lớn hơn 90% (chín mươi phần trăm) mức bồi thường khi thu hồi đất phi nông nghiệp đó.
b) Đối với đất nông nghiệp, mức bồi thường thiệt hại do hạn chế khả năng sử dụng đất không lớn hơn 70% (bảy mươi phần trăm) mức bồi thường khi thu hồi đất nông nghiệp đó.
c) Mức bồi thường cụ thể do Hội đồng bồi thường, hỗ trợ, tái định cư hoặc Ủy ban nhân dân cấp huyện (trường hợp không thành lập Hội đồng bồi thường, hỗ trợ, tái định cư) xem xét, quyết định cho phù hợp với tình hình thực tế.
4. Việc bồi thường thiệt hại do hạn chế khả năng sử dụng đất quy định tại Điều này chỉ áp dụng cho trường hợp đủ điều kiện bồi thường về đất theo quy định. Trường hợp không đủ điều kiện bồi thường về đất, Ủy ban nhân dân cấp huyện xem xét, quyết định hỗ trợ cho phù hợp với tình hình thực tế tại địa phương.