Điều 12. Trách nhiệm của các sở, ban, ngành
1. Thủ trưởng các sở, ban, ngành chịu trách nhiệm trước UBND tỉnh, Chủ tịch UBND tỉnh về việc giải quyết, trả lời kiến nghị của cử tri đúng các quy định của pháp luật và quy định của Quy chế này; tổng hợp báo cáo đầy đủ về kết quả giải quyết, trả lời kiến nghị cho UBND tỉnh, Chủ tịch UBND tỉnh, các cơ quan, tổ chức liên quan có liên quan.
2. Các sở, ban, ngành được giao chủ trì giải quyết, trả lời kiến nghị phải chủ động, thường xuyên phối hợp, theo dõi, đôn đốc việc giải quyết các kiến nghị đã được giao cho cơ quan mình và các cơ quan phối hợp, không để kiến nghị tồn đọng, kéo dài
a) Kiến nghị liên quan đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của nhiều Sở, ban, ngành được giao cho một sở, ban, ngành chủ trì nghiên cứu giải quyết trả lời thì trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ khi nhận được kiến nghị; sở, ban, ngành được giao chủ trì giải quyết, trả lời phải có văn bản gửi đến các cơ quan, đơn vị có liên quan đề nghị phối hợp giải quyết, trả lời kiến nghị.
b) Các cơ quan, đơn vị được giao phối hợp có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với sở, ban, ngành được giao chủ trì để giải quyết, trả lời cử tri, trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đề nghị phối hợp của sở, ban, ngành chủ trì thì các cơ quan, đơn vị được đề nghị phối hợp phải có văn bản trả lời gửi đến sở, ban, ngành được giao chủ trì giải quyết, trả lời cử tri theo đúng quy định của pháp luật và của Quy chế này.
c) Đối với các kiến nghị mà việc giải quyết liên quan đến nhiều sở, ban, ngành vượt quá khả năng, điều kiện hoặc có khó khăn, vướng mắc thì sở, ban, ngành được giao chủ trì phải chủ động phối hợp với các cơ quan, đơn vị có liên quan và trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận được kiến nghị phải có văn bản gửi Chủ tịch UBND tỉnh (thông qua Văn phòng UBND tỉnh) để xem xét, cho ý kiến chỉ đạo.
3. Đối với kiến nghị liên quan đến việc ban hành, sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ các cơ chế, chính sách pháp luật cần có nhiều thời gian để nghiên cứu, tổng kết, đánh giá, tuân thủ các quy trình, thủ tục xây dựng văn bản hoặc kiến nghị khi thực hiện giải quyết cần phải có nguồn lực phụ thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội, khả năng cân đối ngân sách, chưa xác định được thời gian giải quyết thì các sở, ban, ngành phải giải trình, nêu rõ lý do, dự kiến lộ trình, phương hướng giải quyết, trả lời để cử tri biết.
4. Hướng dẫn, phối hợp, theo dõi, đôn đốc và kịp thời điều chỉnh, khắc phục những sai sót theo thẩm quyền trong việc thực hiện giải quyết các kiến nghị đã được giao cho UBND các huyện, thành phố và các cơ quan liên quan thuộc thẩm quyền quản lý nhà nước theo ngành, lĩnh vực được phân công.
Thường xuyên chủ động rà soát, tổng hợp, đánh giá kết quả giải quyết kiến nghị do Văn phòng UBND tỉnh chuyển đến; báo cáo định kỳ hoặc đột xuất theo yêu cầu của Chủ tịch UBND tỉnh và các cơ quan có thẩm quyền.
5. Trường hợp nội dung giải quyết, trả lời kiến nghị không chính xác, chưa đầy đủ, chưa phù hợp với đặc điểm tình hình của địa phương hoặc số liệu chưa nhất quán thì trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông tin từ Văn phòng UBND tỉnh hoặc các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan; các sở, ban, ngành phải rà soát, điều chỉnh lại và có văn bản đính chính, bổ sung gửi Văn phòng UBND tỉnh và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.
6. Trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị của các huyện, thành phố liên quan đến các kiến nghị thuộc thẩm quyền giải quyết của chính quyền địa phương nhưng vượt quá khả năng hoặc có khó khăn, vướng mắc liên quan đến thẩm quyền của sở, ban, ngành hoặc của UBND tỉnh, Chủ tịch UBND tỉnh; sở, ban, ngành phải có văn bản trả lời địa phương hoặc phải có văn bản đề xuất, báo cáo Chủ tịch UBND tỉnh cho ý kiến chỉ đạo.
7. Văn bản trả lời cử tri phải được gửi đến Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh, Thường trực HĐND tỉnh, Văn phòng UBND tỉnh, UBND cấp huyện nơi có cử tri kiến nghị để thông báo cho cử tri; trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày ban hành văn bản trả lời cử tri; sở, ban, ngành chủ trì giải quyết có trách nhiệm đăng tải trên Trang Thông tin điện tử của sở, ban, ngành (nếu có) trừ trường hợp kiến nghị có nội dung, thông tin quy định tại Điều 19 Quy chế này.