Điều 6. Bộ máy trực tiếp quản lý di tích
1. Ban Quản lý di sản thế giới, di tích cấp Quốc gia đặc biệt là đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh hoặc Ủy ban nhân dân cấp huyện, do Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định thành lập, tổ chức lại, giải thể theo quy định.
2. Ban Quản lý di tích xếp hạng cấp Quốc gia, cấp Tỉnh và di tích kiểm kê, phân loại: Là Ban Quản lý cấp xã do Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có di tích thành lập, hoạt động theo chế độ kiêm nhiệm.
Thành phần tham gia, gồm: Đại diện lãnh đạo Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có di tích; Ủy ban Mặt trận Tổ quốc; Hội người cao tuổi; đại diện dòng họ (nếu là di tích lưu niệm danh nhân), trụ trì (nếu di tích là cơ sở tôn giáo), người trông coi trực tiếp di tích; có thể xem xét bổ sung thành phần phù hợp với phạm vi phân bố, loại hình của di tích; mỗi di tích chỉ có một tổ chức quản lý.
3. Di tích do ngành, đơn vị, tổ chức trực tiếp quản lý: Thành lập Tổ bảo vệ di tích là bộ phận chuyên trách quản lý di tích trực thuộc ngành, đơn vị, tổ chức và có sự tham gia của đại diện lãnh đạo Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có di tích.
4. Đối với cụm di tích phân bố trên nhiều địa bàn: Đại diện lãnh đạo Ủy ban nhân dân địa phương nơi có di tích chính trong Cụm di tích chịu trách nhiệm làm Trưởng ban.
5. Kinh phí:
a) Kinh phí phục vụ các hoạt động của Ban Quản lý di tích cấp huyện, Ban Quản lý di tích cấp xã, Tổ bảo vệ di tích được trích từ nguồn thu của di tích gồm: Nguồn thu từ công đức, giọt dầu, phí và các hoạt động có thu khác theo quy định của pháp luật.
b) Trường hợp nguồn thu không đáp ứng được các hoạt động thường xuyên của Ban Quản lý di tích, kinh phí được xem xét hỗ trợ từ ngân sách nhà nước hàng năm cấp cho Ủy ban nhân dân cấp xã (đối với Ban Quản lý di tích cấp xã), Ủy ban nhân dân cấp huyện (đối với Ban Quản lý di tích cấp huyện), từ kinh phí của ngành, đơn vị, tổ chức (đối với Tổ bảo vệ di tích).