Điều 11. Đền bù thiệt hại đối với đất ở trong đô thị:
1. Đất ở trong đô thị là đất dùng để xây dựng nhà ở, các công trình phục vụ nhu cầu ở và khuôn viên (nếu có), phù hợp với quy hoạch đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.
2. Diện tích đất ở hợp pháp để tính tiền đền bù được xác định căn cứ vào: Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, giấy phép xây dựng, giấy phép chuyển mục đích sử dụng đất, quyết định giao đất ở của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Trường hợp không xác định được diện tích đất ở vì thiếu các căn cứ trên thì căn cứ theo diện tích đất ở thực tế quy định tại khoản 1 điều này nhưng không vượt quá định mức đất ở do UBND tỉnh quy định.
3. Các hộ gia đình, cá nhân có khuôn viên đất rộng trong đó có đất nông nghiệp, lâm nghiệp thì diện tích đất được đền bù theo đất ở đô thị tối đa không vượt quá mức đất ở theo Quyết định số 1176/1998/QĐ-UB ngày 20/05/1998 của UBND tỉnh, phần diện tích còn lại được đền bù là đất nông nghiệp, lâm nghiệp.
4. Trường hợp người sử dụng đất ở ổn định nhưng không có đủ giấy tờ hợp lệ không có tranh chấp và làm đầy đủ nghĩa vụ tài chính với Nhà nước, nay được Hội đồng xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phường xác nhận đủ điều kiện công nhận quyền sử dụng đất thì được xét đền bù với các mức sau:
- Trường hợp sử dụng đất ở trước 18/12/1980 thì được đền bù 100%.
- Trường hợp sử dụng đất ở từ sau 18/12/1980 đến 15/10/1993 thì được đền bù 80%.
5. Trường hợp đền bù thiệt hại bằng đất tại nơi ở mới, mà diện tích đất ở bị thu hồi lớn hơn diện tích đất ở được đền bù thì người bị thu hồi đất được đền bù bằng tiền phần chênh lệch về diện tích và giá đất.
Trường hợp diện tích đất ở bị thu hồi nhỏ hơn diện tích đất được đền bù, người được đền bù phải nộp tiền sử dụng đất đối với phần diện tích đất chênh lệch đó.