vanban.org

Điều 13. Quy định về hiệu lệnh nổ mìn — Quyết định 39/2010/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 06/08/2015 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 06/08/2015 Thay thế: 21/2015/QĐ-UBND · 27/07/2015
Bình Phước Ban hành 17/08/2010 Hiệu lực 27/08/2010 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 4 đời quyết định · 8 phiên bản · 16 năm
QUYẾT ĐỊNH SỐ Số: 24/2021/QĐ-UBND BAN HÀNH QUY CHẾ QUẢN LÝ VẬT LIỆU NỔ CÔNG NGHIỆP, TIỀN CHẤT THUỐC NỔ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH PHƯỚC · Số: 24/2021/QĐ-UBND
Quyết định số 30/2019/QĐ-UBND Ban hành quy chế quản lý vật liệu nổ công nghiệp, tiền chất thuốc nổ trên địa bàn tỉnh Bình Phước · 30/2019/QĐ-UBND
Quyết định số 21/2015/QĐ-UBND Ban hành quy chế quản lý vật liệu nổ công nghiệp, tiền chất thuốc nổ trên địa bàn tỉnh Bình Phước · 21/2015/QĐ-UBND
Quyết định số 39/2010/QĐ-UBND Ban hành Quy chế phối hợp quản lý mua, bán, vận chuyển, sử dụng vật liệu nổ công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Phước · 39/2010/QĐ-UBND
06/08/201521/2015/QĐ-UBNDThay thế Đang xem 27/08/2010Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 39/2010/QĐ-UBND › Chương IV › Điều 13
Đọc toàn văn

Điều 13. Quy định về hiệu lệnh nổ mìn

1. Trong một khu vục có nhiều mỏ cùng hoạt động thì các quy định, hiệu lệnh phải được quy ước giông nhau. Các tô chức, doanh nghiệp phai thong bao cụ thể cho UBND xa, thônT ấp nơi tiến hành nổ mìn về giới hạn khu vực an toàn,

biển cảnh báo, hiệu lệnh và thời gian tiến hành nổ mìn trong ngày, trong tuần của đơn vị để thông tin cho nhân dân qua lại trong một khu vực được rõ.

2. Những quy định về biển cảnh báo nổ mìn, hiệu lệnh nổ mìn và thời gian nổ mìn của đơn vị phải được thông báo rộng rãi cho toàn thể công nhân viên trong mỏ, các đơn vị lân cận và dân cư sống xung quanh mỏ được biêt.

3. Sừ dụng còi làm tín hiệu cho việc tiến hành nổ mìn hàng ngày, âm thanh cùa còi báo hiệu phải đảm bảo mọi người nghe rõ; tuyệt đối không được dùng mìn để báo hiệu. Tín hiệu âm thanh do thợ mìn hoặc nhóm trưởng thợ mìn phát theo trình tự’ sau đây:

a) Tin hiệu thứ nhất: Tín hiệu nạp mìn, bằng một hồi còi dài; tất cả mọi người không có liên quan đến nạp, nổ mìn rút ra khỏi giới hạn vùng nguy hiêm hoặc đến cho an toàn dưới sự chỉ dẫn, giám sát của người chỉ huy đợt nổ.

- Trong thời gian nạp mìn, chỉ cho phép những người có trách nhiệm kiểm tra mới được vào chỗ nạp mìn.

- Sau khi nạp xong, đưa tất cả những người nạp mìn và thiết bị ra ngoài vùng nguy hiểm, thợ mìn mới được đấu nôi mạng lưới nô mìn, sau đó từ vị trí an toàn kiem tra mạng nổ và chỉ khi nhận được thông báo an toàn từ tẩt cả các vị trí cảnh giới (trạm gác) thì mới được đấu nối ngòi nổ vào mạng nổ;

b) Tín hiệu thứ hai: Tín hiệu khởi nổ bằng hai tín hiệu âm thanh liên tiếp. Theo tín hiệu này, thợ mìn bắt đầu đốt dây cháy chậm của ngòi mìn rồi rút ra hâm trú ẩn hoặc ra nơi an toàn; khi nổ mìn bằng điện hoặc phương pháp khác thì đóng mạch điện hoặc phát hiệu để khởi nổ;

c) Tín hiệu thứ ba: Tín hiệu báo yên bàng ba tín hiệu âm thanh liên tiếp sau khi công việc kiểm tra bãi nổ đã kết thúc, đảm bảo an toàn.

d) Trường hợp bãi mìn có diện tích rộng, địa hình phức tạp, người chỉ huy nổ mìn co thể quy định bổ sung các tín hiệu phù hợp nhưng tôi đa không vượt quá 5 loại tín hiệu.

4. Tổ chức, doanh nghiệp sử dụng VLNCN phải trang bị máy bộ đàm để đảm bảo thông tin liên lạc giữa chỉ huy nổ mìn và các chôt canh gác; khu vực có nhiều mỏ phải trang bị hệ thống mảy bộ đàm có cùng tân sô.

5. Các tổ chức, doanh nghiệp không được tự ý thay đổi quy định, quy ước về hiệu lệnh nổ mìn.