Điều 6. - Trong quá trình tiến hành thanh tra ở một số đơn vị thuộc Bộ, thanh tra Bộ có quyền:
1. Yêu cầu Thủ trưởng cơ quan, đơn vị, cá nhân có liên quan cung cấp thông tin cần thiết phục vụ cho việc thanh tra, yêu cầu cơ quan, đơn vị hữu quan thuộc Bộ cử người tham gia hoạt động thanh tra.
2. Trưng cầu giám định
3. Yêu cầu đối tượng thanh tra cung cấp tài liệu, báo cáo bằng văn bản, trả lời những chất vấn của thanh tra Bộ hoặc của Thanh tra viên, khi cần thiết tiến hành kiểm kê tài sản.
4. Quyết định niêm phong tài liệu, kiểm kê tài sản khi có căn cứ để nhận định có vi phạm pháp luật, ra quyết định yêu cầu cơ quan có thẩm quyền tạm giữ tiền, đồ vật, giấy phép được cấp hoặc sử dụng trái pháp luật khi xét thấy cần ngăn chặn ngay việc vi phạm pháp luật để xác minh tình tiết làm chứng cứ cho việc kết luận, xử lý.
5. Đình chỉ việc làm của đối tượng thanh tra nếu xét thấy đang hoặc sẽ gây tác hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và của công dân.
6. Tạm đình chỉ việc thi hành quyết định kỷ luật, thuyên chuyển công tác người đang cộng tác với tổ chức thanh tra hoặc đáng là đối tượng thanh tra nếu xét thấy việc thi hành quyết định gây trở ngại cho việc thanh tra.
7. Cảnh cáo, tạm đình chỉ công tác nhân viên Nhà nước của các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ cố ý cản trở việc thanh tra hoặc không thực hiện yêu cầu, kiến nghị, quyết định của tổ chức thanh tra hoặc thanh tra viên.
8. Được kết luận, kiến nghị hoặc quyết định xử lý theo quy định của Pháp lệnh Thanh tra.
9. Chuyển hồ sơ về việc vi phạm pháp luật sang cơ quan điều tra hình sự có thẩm quyền giải quyết, nếu xét thấy có dấu hiệu cấu thành tội phạm.
10. Khi xét thấy không còn cần thiết áp dụng các biện pháp quy định tại các điểm 4,5,6 và biện pháp tạm đình chỉ công tác nhân viên Nhà nước quy định tại điểm 7 của điều này thì người ra quyết định phải có quyết định huỷ bỏ việc áp dụng các biện pháp đó.
11. Trước khi thực hiện các quyền ghi ở điểm 4, 5, 6, 7, 9 trong điều này phải báo cáo với người ra quyết định thanh tra.