Điều 6. Cắm mốc chỉ giới phạm vi bảo vệ công trình thủy lợi và đê, kè
1. Đối với các công trình thủy lợi và đê, kè đã đưa vào khai thác trước khi Quy định này có hiệu lực và chưa cắm mốc chỉ giới xác định phạm vi bảo vệ thì phải tiến hành cắm mốc chỉ giới phạm vi bảo vệ công trình. Các đơn vị, tổ chức, cá nhân trực tiếp quản lý, khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi và đê, kè thực hiện việc cắm mốc chỉ giới này, đồng thời thông báo cho Ủy ban nhân dân các cấp nơi có công trình biết để phối hợp bảo vệ hành lang an toàn công trình.
2. Đối với các công trình thủy lợi và đê, kè đang triển khai xây dựng hoặc đang lập dự án đầu tư, sau khi Quy định này có hiệu lực, chủ đầu tư xây dựng công trình phải thực hiện cắm mốc chỉ giới phạm vi bảo vệ công trình và bàn giao cho đơn vị, tổ chức, cá nhân được giao quản lý, khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi và đê, kè khi công trình hoàn thành bàn giao đưa vào sử dụng.
3. Công tác lập, thẩm định và phê duyệt phương án cắm mốc chỉ giới phạm vi bảo vệ công trình thủy lợi và đê, kè được thực hiện theo quy định tại Thông tư số 45/2009/TT-BNNPTNT ngày 24 tháng 7 năm 2009 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc Hướng dẫn lập và phê duyệt phương án bảo vệ công trình thủy lợi; Thông tư số 10/2016/TT-BXD ngày 15 tháng 3 năm 2016 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng Quy định về việc cắm mốc giới và quản lý mốc giới theo quy hoạch xây dựng và các văn bản pháp luật hiện hành khác có liên quan..