Điều 12. Bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất ở
Việc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất ở được thực hiện theo quy định sau đây:
1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ở, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đang sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất tại Việt Nam khi Nhà nước thu hồi đất ở mà có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của pháp luật về đất đai thì việc bồi thường về đất được thực hiện như sau:
a. Trường hợp thu hồi hết đất ở hoặc phần diện tích đất ở còn lại sau thu hồi không đủ điều kiện để ở theo quy định của UBND tỉnh mà hộ gia đình, cá nhân không còn đất ở, nhà ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất ở thu hồi thì được bồi thường bằng đất ở theo hình thức giao đất ở tái định cư hoặc nhà ở tái định cư (nếu có) hoặc bồi thường bằng tiền theo giá đất quy định tại Điều 6 của Quy định này.
b. Trường hợp thu hồi hết đất ở hoặc phần diện tích đất ở còn lại sau thu hồi không đủ điều kiện để ở theo quy định của UBND tỉnh mà hộ gia đình, cá nhân còn đất ở, nhà ở khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất ở thu hồi thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất quy định tại Điều 6 của Quy định này.
2. Hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc các trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều này mà không có nhu cầu bồi thường bằng đất ở hoặc bằng nhà ở tái định cư thì được Nhà nước bồi thường bằng tiền.
3. Tổ chức kinh tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang sử dụng đất để thực hiện dự án xây dựng nhà ở khi Nhà nước thu hồi đất, nếu có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 75 của Luật Đất đai thì việc bồi thường thực hiện theo quy định sau đây:
a. Trường hợp thu hồi một phần diện tích đất của dự án mà phần còn lại vẫn đủ điều kiện để tiếp tục thực hiện dự án thì được bồi thường bằng tiền đối với phần diện tích đất thu hồi;
b. Trường hợp thu hồi toàn bộ diện tích đất hoặc thu hồi một phần diện tích đất của dự án mà phần còn lại không đủ điều kiện để tiếp tục thực hiện dự án thì được bồi thường bằng đất để thực hiện dự án hoặc bồi thường bằng tiền;
c. Đối với dự án đã đưa vào kinh doanh khi Nhà nước thu hồi đất thì được bồi thường bằng tiền.
4. Bồi thường đối với đất ở do các cơ quan, đơn vị tự quản bố trí cho cán bộ, công nhân viên:
a. Đối với đất có nguồn gốc được Nhà nước giao cho các cơ quan, đơn vị xây khu tập thể để bán nhà cho cán bộ, công nhân viên hoặc bố trí đất cho cán bộ, công nhân viên tự xây nhà để ở được hình thành từ trước ngày 01/7/2004 thì được bồi thường như sau:
- Trường hợp được bố trí sử dụng ổn định từ trước ngày 15/10/1993 và được UBND cấp xã xác nhận không có tranh chấp thì người sử dụng đất được bồi thường đất ở theo diện tích đất thực tế sử dụng bị thu hồi nhưng không vượt quá hạn mức giao đất ở và phải trừ đi 40% tiền sử dụng đất phải nộp theo quy định.
- Trường hợp được bố trí sử dụng ổn định từ ngày 15/10/1993 đến trước ngày 01/7/2004 và được UBND cấp xã xác nhận không có tranh chấp thì người sử dụng đất được bồi thường đất ở theo diện tích đất thực tế sử dụng bị thu hồi nhưng không vượt quá hạn mức giao đất ở và phải trừ đi 50% tiền sử dụng đất phải nộp theo quy định.
b. Đối với đất có nguồn gốc được Nhà nước giao cho các cơ quan, đơn vị xây khu tập thể và bố trí cho cán bộ, công nhân viên để ở (không được bán) thì người sử dụng đất không được bồi thường về đất mà chỉ được hỗ trợ bằng 50% giá đất ở đối với phần diện tích đất bị thu hồi nhưng không vượt quá hạn mức giao đất ở.
c. Đối với nhà, đất do các cơ quan, đơn vị được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất không thuộc quy định tại Điểm a và Điểm b Khoản 4 Điều này nhưng đã bố trí đất cho cán bộ, công nhân viên làm nhà ở trước ngày 15/10/1993 và được UBND cấp xã xác nhận không có tranh chấp thì người sử dụng đất được bồi thường đất ở theo diện tích đất thực tế sử dụng bị thu hồi nhưng không vượt quá hạn mức giao đất ở và phải trừ đi 40% tiền sử dụng đất phải nộp theo quy định; trường hợp bố trí đất cho cán bộ, công nhân viên làm nhà ở từ ngày 15/10/1993 đến trước ngày 01/7/2004 thì không được bồi thường đất ở (trường hợp có đầu tư vào đất thì được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại theo quy định tại Điều 7 Quy định này).
d. Các trường hợp cơ quan, đơn vị bố trí đất cho cán bộ, công nhân viên làm nhà ở từ ngày 01/7/2004 về sau thì không được bồi thường, hỗ trợ đất ở.
5. Các trường hợp xây dựng nhà trái phép trên đầm, sông, rạch, mặt nước thì không được bồi thường về đất nhưng được hỗ trợ về đất theo giá đất ở liền kề như sau:
a. Trường hợp xây dựng trước ngày 15/10/1993 được hỗ trợ 100% giá đất ở tính theo diện tích nhà bị giải tỏa nhưng tối đa không vượt quá hạn mức giao đất ở.
b. Trường hợp xây dựng từ ngày 15/10/1993 đến trước ngày 01/7/2004 thì được hỗ trợ 50% giá đất ở tính theo diện tích nhà bị giải tỏa nhưng tối đa không vượt quá hạn mức giao đất ở.
c. Trường hợp xây dựng từ ngày 01/7/2004 trở về sau hoặc tái lấn, chiếm thì không được bồi thường, hỗ trợ về đất. Người có nhà cửa và vật kiến trúc buộc phải tháo dỡ, di dời giao trả đất cho Nhà nước.
6. Đất có nhà ở hình thành trước ngày 15/10/1993 nhưng không có giấy tờ về quyền sử dụng đất theo quy định tại các Khoản 1, 2, 3, 4, 5 Điều 5 của Quy định này, tại thời điểm bắt đầu sử dụng đất không có một trong các hành vi vi phạm theo quy định tại Điều 22 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP và được UBND cấp xã xác nhận là đất sử dụng ổn định, không có tranh chấp thì được bồi thường như sau:
a. Trường hợp diện tích đất đã xây dựng nhà ở bằng hoặc nhỏ hơn hạn mức công nhận đất ở thì được bồi thường theo giá đất ở đối với phần diện tích đất thực tế đang sử dụng bị thu hồi nhưng không vượt quá hạn mức công nhận đất ở.
b. Trường hợp diện tích đất đã xây dựng nhà ở lớn hơn hạn mức công nhận đất ở thì phần diện tích trong hạn mức công nhận đất ở được bồi thường theo giá đất ở, phần diện tích vượt hạn mức công nhận đất ở thì được bồi thường theo giá đất ở phải trừ đi 50% tiền sử dụng đất theo quy định.
c. Phần diện tích đất còn lại không được bồi thường theo quy định tại Điểm a, b Khoản này (nếu có) thì được bồi thường, hỗ trợ đất nông nghiệp.
7. Đất có nhà ở hình thành từ ngày 15/10/1993 đến trước ngày 01/7/2004 nhưng không có giấy tờ về quyền sử dụng đất theo quy định tại các Khoản 1, 2, 3, 4, 5 Điều 5 của Quy định này, tại thời điểm bắt đầu sử dụng đất không có một trong các hành vi vi phạm theo quy định tại Điều 22 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP và được UBND cấp xã xác nhận là đất sử dụng ổn định, không có tranh chấp thì được bồi thường như sau:
a. Trường hợp diện tích đất đã xây dựng nhà ở bằng hoặc nhỏ hơn hạn mức giao đất ở thì được bồi thường theo giá đất ở đối với phần diện tích đất thực tế đang sử dụng bị thu hồi và phải trừ đi 50% tiền sử dụng đất theo quy định.
b. Trường hợp diện tích đã xây dựng nhà ở lớn hơn hạn mức giao đất ở thì được bồi thường theo giá đất ở đối với phần diện tích đất thực tế đang sử dụng bị thu hồi, diện tích trong hạn mức giao đất ở được bồi thường theo giá đất ở phải trừ đi 50% tiền sử dụng đất theo quy định, diện tích đã xây dựng nhà ở vượt hạn mức giao đất ở được bồi thường theo giá đất ở phải trừ đi 100% tiền sử dụng đất theo quy định.
Đối với các hộ dân đi kinh tế mới tại thôn Hội Lợi, xã Nhơn Hội từ các năm 1995, 1996, 1997 đã được giao đất ở theo chủ trương của Nhà nước thì được bồi thường, hỗ trợ về đất ở như sau:
- Các hộ đã nhập khẩu và thực tế đang sinh sống ở đó theo xác nhận của UBND xã, được bồi thường 100% giá đất ở theo diện tích đất thực tế thu hồi nhưng không quá hạn mức giao đất ở theo quy định. Nếu diện tích đất xây dựng thực tế lớn hơn hạn mức giao đất ở thì phần diện tích đất vượt được hỗ trợ bằng 50% giá đất ở.
- Các hộ đã xây dựng nhà ở nhưng không đến ở theo xác nhận của UBND xã, được hỗ trợ 50% giá đất ở theo diện tích đất thực tế thu hồi nhưng không quá hạn mức giao đất ở theo quy định. Nếu diện tích đất xây dựng thực tế lớn hơn hạn mức giao đất ở thì phần diện tích đất vượt được hỗ trợ theo giá đất nông nghiệp.
- Các hộ xây dựng lều, trại và không đến ở; không xây dựng nhà và không đến ở theo xác nhận của UBND xã thì không được bồi thường, hỗ trợ về đất.
c. Phần diện tích đất còn lại không được bồi thường theo quy định tại Điểm a, b Khoản này (nếu có) thì được bồi thường, hỗ trợ đất nông nghiệp.