Điều 8. Thẩm quyền quyết định đầu tư
1. Đối với các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước:
a) Đối với các dự án đầu tư bằng nguồn vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư có tổng mức đầu tư dưới 01 tỷ đồng, chủ đầu tư căn cứ vào kế hoạch dự toán được giao đầu năm để tổ chức thẩm định, phê duyệt thiết kế bản vẽ thi công-dự toán, không phải lập Báo cáo kinh tế kỹ thuật xây dựng công trình.
b) Chủ tịch UBND cấp xã phê duyệt các dự án phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020 theo Quyết định số 800/QĐ-TTg có tổng mức đầu tư đến 03 tỷ đồng. Trường hợp địa điểm đầu tư dự án có sử dụng đất trồng lúa nước có diện tích 0,5ha trở lên phải được sự chấp thuận của Chủ tịch UBND tỉnh.
c) Chủ tịch UBND cấp huyện được phân cấp phê duyệt dự án:
- Các dự án nhóm C thuộc thẩm quyền thông báo cho phép chủ trương đầu tư của Chủ tịch UBND cấp huyện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 4 của Quy định này;
- Các dự án phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020 theo Quyết định số 800/QĐ-TTg có mức vốn đầu tư trên 03 tỷ đồng hoặc có yêu cầu kỹ thuật cao;
- Các dự án cấp huyện, cấp xã đầu tư bằng nguồn vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư xây dựng cơ bản thuộc ngân sách huyện quản lý, trừ các dự án quy định tại điểm a khoản 1 Điều này.
Trường hợp địa điểm đầu tư dự án có sử dụng đất trồng lúa nước có diện tích 0,5ha trở lên phải được sự chấp thuận của Chủ tịch UBND tỉnh.
d) Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư được ủy quyền phê duyệt Báo cáo kinh tế - kỹ thuật xây dựng công trình đối với các dự án thuộc thẩm quyền thông báo cho phép chủ trương đầu tư của Chủ tịch UBND tTỉnh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 4 của Quy định này và các dự án cấp Tỉnh đầu tư bằng nguồn vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư, trừ các dự án quy định tại điểm a khoản 1 Điều này.
e) Chủ tịch UBND tỉnh phê duyệt các dự án còn lại, trừ các dự án theo quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị định số 12/2009/NĐ-CP.
2. Đối với các dự án không sử dụng vốn ngân sách nhà nước:
Chủ đầu tư tự quyết định đầu tư và chịu trách nhiệm. Sau khi phê duyệt, chủ đầu tư có trách nhiệm gửi quyết định đầu tư đến UBND tỉnh, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính, Sở Xây dựng, Sở Tài nguyên và Môi trường, UBND huyện nơi có dự án đầu tư và các cơ quan liên quan (đối với dự án thuộc thẩm quyền thông báo cho phép chủ trương đầu tư của Chủ tịch UBND tỉnh); đến UBND tỉnh, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính, Sở Xây dựng, Sở Tài nguyên và Môi trường, UBND cấp huyện, Phòng Tài chính - Kế hoạch, và các cơ quan liên quan (đối với dự án thuộc thẩm quyền thông báo cho phép chủ trương đầu tư của Chủ tịch UBND cấp huyện). Định kỳ hàng quý, 6 tháng, năm, chủ đầu tư có trách nhiệm gửi báo cáo tình hình triển khai thực hiện dự án đến Sở Kế hoạch và Đầu tư để tổng hợp báo cáo UBND tỉnh (đối với dự án thuộc thẩm quyền thông báo cho phép chủ trương đầu tư của Chủ tịch UBND tỉnh và Chủ tịch UBND cấp huyện); gửi đến Phòng Tài chính - Kế hoạch để tổng hợp báo cáo UBND cấp huyện, Sở Kế hoạch và Đầu tư và UBND tỉnh (đối với dự án thuộc thẩm quyền thông báo cho phép chủ trương đầu tư của Chủ tịch UBND cấp huyện). Trong quá trình kiểm tra, giám sát nếu phát hiện chủ đầu tư không thực hiện các quy định nêu trên, cơ quan kiểm tra, giám sát có trách nhiệm tổng hợp báo cáo người có thẩm quyền thông báo cho phép chủ trương đầu tư xử lý theo quy định.