Điều 7. Những quy định chung khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở đối với thửa đất ở có vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở thuộc khu dân cư:
1. Thửa đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phải có ranh giới sử dụng đất ổn định, không tranh chấp. Nếu có tranh chấp, khiếu nại thì phải giải quyết xong việc tranh chấp, khiếu nại đó theo quy định của pháp luật trước khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
2. Diện tích công nhận đất ở được quy định tại các Điều 4, 5, 6 của Quy định này không vượt quá diện tích thửa đất mà hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng.
3. Nếu diện tích thửa đất mà hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng nhỏ hơn diện tích được xác định là đất ở theo hạn mức quy định tại các Điều 4, 5, 6 của Quy định này thì diện tích đất ở được xác định là toàn bộ thửa đất.
4. Nếu diện tích thửa đất mà hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng lớn hơn diện tích được xác định là đất ở theo hạn mức quy định tại các Điều 4, 5, 6 của Quy định này, khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì diện tích đất ở được xác định bằng hạn mức công nhận theo quy định và diện tích còn lại được xác định ghi theo hiện trạng sử dụng đất. Khi chuyển phần diện tích này sang đất ở thì được giải quyết theo quy định về chuyển mục đích sử dụng đất và thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định.
5. Nếu phần diện tích đất đã xây dựng nhà ở hoặc công trình phụ mà vượt diện tích được xác định là đất ở theo hạn mức quy định tại các Điều 4, 5, 6 của Quy định này, thì phần diện tích vượt hạn mức đó được xác định là đất ở và phải nộp 100% tiền sử dụng đất nếu phù hợp quy hoạch khu dân cư.
6. Trường hợp sử dụng đất ở có nguồn gốc do Nhà nước giao đất ở khi thực hiện Luật Đất đai năm 1993, Luật sửa đổi bổ sung một số điều Luật Đất đai năm 1998, năm 2001 khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì người sử dụng đất phải hoàn tất nghĩa vụ tài chính theo quy định.