Điều 4. Đối với trường hợp thửa đất ở có vườn ao trong cùng thửa đất có nhà ở thuộc khu dân cư, được hình thành trước ngày 18/12/1980 và người đang sử dụng thửa đất đó có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai thì được cấp giấy chứng nhận trên toàn bộ diện tích đang sử dụng, trong đó diện tích đất ở được xác định như sau:
1. Trường hợp trong hồ sơ địa chính hoặc các giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai nói trên có ghi nhận rõ ranh giới thửa đất ở (hoặc thổ cư) thì toàn bộ diện tích đất đó (kể cả đất vườn, ao) được xác định là đất ở.
2. Trường hợp ranh giới thửa đất chưa được xác định trong hồ sơ địa chính hoặc trên các giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai nói trên thì diện tích đất ở được xác định bằng 5 lần hạn mức giao đất ở quy định tại Điều 3 của Quy định này.
Khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các trường hợp quy định tại khoản 1, khoản 2, Điều 50 của Luật Đất đai 2003 thì không phải nộp tiền sử dụng đất; riêng thuộc các trường hợp quy định tại khoản 5 Điều 50 Luật Đất đai 2003 thì phải thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định.