Điều 4. Vị trí, diện tích, phân vùng quản lý
1. Vị trí, diện tích
Khu Sinh quyển thế giới Mũi Cà Mau nằm trên địa bàn các huyện: U Minh, Trần Văn Thời, Phú Tân, Năm Căn và Ngọc Hiển. Tổng diện tích 371.506 ha.
2. Phân vùng quản lý
a) Vùng lõi có diện tích 17.353 ha, được chia thành 3 vùng. Vùng lõi 1 có diện tích 12.203 ha nằm trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt của Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau; vùng lõi 2 có diện tích 2.594 ha nằm trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt của Vườn Quốc gia U Minh Hạ; vùng lõi 3 có diện tích 2.556 ha, thuộc dải rừng phòng hộ ven biển Tây Cà Mau.
Vùng lõi là khu vực dành riêng cho bảo tồn đa dạng sinh học, giám sát diễn thế các hệ sinh thái; cho phép các hoạt động nghiên cứu khoa học, giáo dục mà không ảnh hưởng tới tính đa dạng sinh học của khu vực. Nhiệm vụ chính của vùng lõi là bảo tồn hệ sinh thái tự nhiên còn tương đối nguyên vẹn, bảo tồn các nguồn gen động, thực vật quý hiếm, các loài đặc hữu của Khu Sinh quyển.
b) Vùng đệm có diện tích 43.527 ha, được chia làm 2 vùng. Vùng đệm nội địa có diện tích 8.993 ha (Trong đó Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau 3.059 ha, Vườn Quốc gia U Minh Hạ 5.934 ha) và vùng đệm ven biển diện tích 34.534 ha (Trong đó Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau 26.600 ha, ven Biển Tây 7.934 ha).
Vùng đệm là khu vực bao quanh các vùng lõi, góp phần hạn chế các hoạt động của con người, giúp cho việc bảo tồn đa dạng sinh học ở các vùng lõi. Các hoạt động phát triển kinh tế trên vùng đệm như: khai thác tài nguyên, phát triển du lịch sinh thái, nghiên cứu, giáo dục, đào tạo... được triển khai nhằm nâng cao mức sống người dân vùng đệm; đây là yếu tố quan trọng để đảm bảo cho việc bảo tồn thành công vùng lõi. Nhiệm vụ chính của vùng đệm là phục hồi hệ sinh thái rừng, nghiên cứu cơ cấu phục vụ yêu cầu bảo tồn, tuyên truyền giáo dục kết hợp dịch vụ du lịch sinh thái.
c) Vùng chuyển tiếp diện tích 310.626 ha. Trong đó: Nội địa 94.688 ha, biển 215.938 ha (Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau: Nội địa có 12.133 ha, biển có 87.027 ha; Vườn Quốc gia U Minh Hạ: Nội địa 82.555 ha; Biển Tây 128.911 ha biển).
Nơi tập trung đông cộng đồng dân cư địa phương, cần được khuyến khích phát triển các loại hình kinh tế phù hợp với yêu cầu phát triển bền vững, tăng thu nhập cho người dân; các hệ thống sử dụng bền vững đất, nước; xây dựng các chương trình phát triển cơ sở hạ tầng; chức năng hỗ trợ của các dự án giáo dục môi trường; nghiên cứu khảo sát, bảo vệ và phát triển rừng; các hoạt động sinh kế cộng đồng.