Điều 4. Hoà giải tranh chấp đất đai
1. Tự hoà giải
Khuyến khích các bên tranh chấp đất đai chủ động gặp gỡ nhau để tự hoà giải. Nếu không thoả thuận được thì thông qua hoà giải ở cơ sở để giải quyết tranh chấp đất đai.
2. Hoà giải ở cơ sở
Hoà giải ở cơ sở là việc hướng dẫn, giúp đỡ, thuyết phục của Tổ hoà giải đối với các bên tranh chấp nhằm đạt được thoả thuận và tự nguyện giải quyết với nhau, giữ gìn đoàn kết trong nội bộ nhân dân, củng cố, phát huy những tình cảm đạo lý truyền thống tốt đẹp trong gia đình và cộng đồng dân cư, phòng ngừa, hạn chế vi phạm pháp luật, bảo vệ trật tự, an toàn xã hội trong cộng đồng dân cư.
Trường hợp các bên tranh chấp đất đai không tự hoà giải được ở cơ sở thì gửi đơn đến Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp để hoà giải.
3. Hoà giải tranh chấp đất đai của Uỷ ban nhân dân cấp xã
a. Trong thời hạn không quá 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn, Uỷ ban nhân dân cấp xã phải thành lập Hội đồng tư vấn giải quyết tranh chấp đất đai (sau đây gọi là Hội đồng tư vấn), gồm các thành phần sau:
- Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã là Chủ tịch Hội đồng;
- Đại diện Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã, phường, thị trấn.
- Tổ trưởng tổ dân phố hoặc tiểu khu dân cư đối với khu vực đô thị, thị trấn; trưởng thôn đối với khu vực nông thôn. Trường hợp cần thiết thì mời: Bí thư Chi bộ ở cơ sở và Trưởng các đoàn thể (nơi sinh hoạt chính trị, đoàn thể của các bên tranh chấp đất đai) cùng tham gia.
- Đại diện của một số hộ dân sống lâu đời tại xã, phường, thị trấn biết rõ về nguồn gốc và quá trình sử dụng đối với thửa đất đó;
- Cán bộ địa chính, cán bộ tư pháp xã, phường, thị trấn.
Hội đồng tư vấn hoạt động theo chế độ tập thể và sử dụng con dấu của Uỷ ban nhân dân cấp xã.
b. Trong thời hạn không quá 10 ngày làm việc, kể từ ngày thành lập, Hội đồng tư vấn phải kiến nghị hướng giải quyết bằng văn bản gửi cho Uỷ ban nhân dân cấp xã và các bên tham gia tranh chấp.
c. Trong thời hạn không quá 15 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được kiến nghị hướng giải quyết của Hội đồng tư vấn, Uỷ ban nhân dân cấp xã phải tổ chức hoà giải tranh chấp (phương thức hoà giải phải phân tích, thuyết phục các bên đạt được thoả thuận phù hợp với pháp luật, đạo đức xã hội, phong tục, tập quán tốt đẹp ở địa phương, tự nguyện thực hiện thoả thuận đó) và hoàn thành các công việc sau:
- Yêu cầu các bên tranh chấp xuất trình chứng cứ; giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại khoản 1, Điều 1 của Bản quy định này đối với phần diện tích tranh chấp.
- Lập biên bản hoà giải, biên bản hoà giải phải ghi rõ phần diện tích đất đang tranh chấp đã có hay không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc một trong các loại giấy tờ quy định tại khoản 1, Điều 1 của Bản quy định này, biên bản hoà giải được gửi cho các bên tham gia tranh chấp và lưu tại Uỷ ban nhân dan cấp xã.
Trường hợp hoà giải thành thì biên bản hoà giải phải có xác nhận hoà giải thành của Uỷ ban nhân dân cấp xã đó và chữ ký của các bên liên quan. Kết quả hoà giải thành làm thay đổi hiện trạng, ranh giới thửa đất, thay đổi chủ sử dụng đất thì gửi thêm 01 biên bản hoà giải thành cho Phòng Tài nguyên và Môi trường cấp huyện đối với những tranh chấp đất đai giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau; gửi cho Sở Tài nguyên và Môi trường đối với những tranh chấp khác. Cơ quan tài nguyên và môi trường có trách nhiệm chỉnh lý hồ sơ địa chính theo quy định và trình Uỷ ban nhân dân cùng cấp quyết định công nhận quyền sử dụng đất theo nội dung hoà giải thành và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Trường hợp hoà giải không thành thì biên bản hoà giải phải có chữ ký của các bên (trường hợp một hoặc các bên cố tình không ký vào biên bản hoà giải thì phải có ký nhận của người làm chứng và ghi rõ lý do vì sao các bên tranh chấp không ký tên vào biên bản tại phần ký tên của các bên). Căn cứ quy định tại Chương II của quy định này, Uỷ ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm giải thích và hướng dẫn các bên nộp hồ sơ xin giải quyết tranh chấp đất đai tại Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền hoặc cơ quan Toà án nhân dân (đối với trường hợp các bên tranh chấp có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại khoản 1, Điều 1 của Bản quy định này).
d. Trường hợp không tiến hành hoà giải được tại Uỷ ban nhân dân cấp xã do một bên trong các bên tranh chấp đã được Uỷ ban nhân dân cấp xã triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt không có lý do chính đáng, thì Uỷ ban nhân dân cấp xã phải lập biên bản hoà giải không thành, niêm yết công khai tại trụ sở Uỷ ban nhân dân trong thời gian 15 ngày liên tục và giao biên bản này cho bên tranh chấp có mặt, đồng thời hướng dẫn họ gửi hồ sơ cho cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp.
Trường hợp một bên tranh chấp không thể tham gia hoà giải được vì có lý do chính đáng (như tai nạn, ốm đau, bệnh tật, đi công tác nước ngoài, bị giam giữ, bị tạm giam…), thì Uỷ ban nhân dân cấp xã lập biên bản hoà giải không thành và giao biên bản này cho bên tranh chấp có mặt, đồng thời hướng dẫn họ gửi hồ sơ cho cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp.
đ. Trong trường hợp các bên tranh chấp nộp đơn xin giải quyết tranh chấp mà chưa qua hoà giải tại Uỷ ban nhân dân cấp xã, thì Uỷ ban nhân dân cấp huyện, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trả lại đơn cho các bên tranh chấp và có trách nhiệm hướng dẫn họ thực hiện các quy định tại khoản 1 và 2 của Điều này. Trường hợp các bên tranh chấp đã gửi đơn đến Uỷ ban nhân dân cấp xã nhưng không hoặc chưa được giải quyết theo quy định của pháp luật thì có văn bản yêu cầu Uỷ ban nhân dân cấp xã thực hiện các quy định tại khoản 2 và 3 của Điều này.