Điều 8: Đơn vị quản lý khai thác công trình cấp nước tập trung được thu tiền nước của các hộ gia đình, cá nhân, tổ chức sử dụng nước từ công trình để phục vụ cho công tác quản lý khai thác và duy tu bảo dưỡng công trình, cụ thể như sau:
1. Đối với công trình cấp nước sinh hoạt đã được sắp đặt đồng hồ đo nước, mức thu theo mét khối (m3) nước sử dụng. Thực hiện theo nguyên tắc thoả thuận như sau:
- Đơn vị quản lý khai thác công trình cấp nước lập dự toán chi trong năm bao gồm các khoản chi:
+ Phụ cấp cho bộ máy quản lý, khai thác.
+ Chi cho công tác vận hành (điện, hoá chất ...)
+ Chi sửa chữa nhỏ thường xuyên.
+ Chi nâng cấp, sửa chữa lớn.
+ Chi cho phần tạo nguồn.
+ Dự phòng.
- Trên cơ sở dự toán đó đưa ra họp dân cùng trao đổi thống nhất tổng mức chi cho hoạt động của công trình trong một năm.
Dự kiến lượng nước tiêu thụ trong năm theo mùa thực tế đã dùng và mức đăng ký dùng nước của các hộ và lượng nước hao hụt để xác định giá thành của 1m3 nước cần thu để trang trải được chi phí. Trong những trường hợp giá 1m3 nước thấp hơn 2500đ/m3 thì thực hiện thu theo giá đó. Nếu vượt quá 2.500đ/m3 thì UBND xã xem xét lại hiệu quả của công trình để có giải pháp, khắc phục và tuyên truyền vận động bà con tăng mức sử dụng nước hợp lý theo mức bình quân đã được quy định. Trong trường hợp vẫn không giải quyết được thì cho đấu thầu công trình cho các thành phần khác khai thác, quản lý (nhưng giá thành 1m3 nước không vượt quá 2.500 đồng).
- Đối với các công trình cấp nước tụ chảy thu không vượt quá 1000đ/m3.
2. Đối với các công trình cấp nước sinh hoạt nông thôn chưa lắp đặt đồng hồ đo nước, mức thu tiền sử dụng nước theo giá thoả thuận trong phạm vi từ 5.000 đồng đến 10.000 đồng/tháng/hộ.
3. Việc thu chi tiền sử dụng nước sinh hoạt nông thôn được thực hiện đúng theo quy định về quản lý tài chính, kế toán hiện hành. Phương án, định mức thu chi đối với các công trình nước SH nông thôn không do Công ty Cấp thoát nước quản lý phải được UBND huyện phê duyệt.