Điều 8. Quy định về quản lý chất thải nhựa
1. Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có trách nhiệm thực hiện theo quy định tại khoản 1, khoản 2, khoản 3, khoản 4 và khoản 5 Điều 73 Luật Bảo vệ môi trường năm 2020; Điều 64 Nghị định số 08/2022/NĐ-CP và quy định pháp luật có liên quan.
2. Phân loại chất thải nhựa
a) Chất thải nhựa trước khi chuyển giao cho đơn vị thu gom, vận chuyển phải phân loại để tái sử dụng, tái chế, trường hợp không thể tái chế, sử dụng phải được chuyển giao để xử lý theo quy định.
b) Khuyến khích việc tái sử dụng, tái chế chất thải nhựa; sử dụng các sản phẩm thân thiện môi trường, sản phẩm thay thế sản phẩm nhựa sử dụng một lần và sản phẩm thay thế bao bì nhựa khó phân hủy sinh học.
c) Hạn chế sử dụng bao bì nhựa khó phân hủy sinh học và sản phẩm nhựa sử dụng một lần, sản phẩm, hàng hóa chứa vi nhựa và đến ngày 01 tháng 01 năm 2026 không lưu hành và sử dụng sản phẩm nhựa sử dụng một lần, bao bì nhựa khó phân hủy sinh học (gồm túi ni lông khó phân hủy sinh học, hộp nhựa xốp đóng gói, chứa đựng thực phẩm) tại các trung tâm thương mại, siêu thị, khách sạn, khu du lịch, trừ sản phẩm, hàng hóa có bao bì nhựa khó phân hủy sinh học.
d) Không thải bỏ chất thải nhựa trực tiếp vào hệ thống thoát nước, sông, kênh, rạch, ao, hồ.
đ) Các cơ quan, đơn vị, tổ chức sử dụng ngân sách nhà nước hạn chế sử dụng sản phẩm nhựa dùng một lần, bao bì nhựa khó phân hủy sinh học tại công sở và trong các hội nghị, hội thảo, cuộc họp và ngày lễ, lễ kỷ niệm và các sự kiện khác.
3. Sở Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm tham mưu Ủy ban nhân dân thành phố lộ trình hạn chế sử dụng sản phẩm nhựa sử dụng một lần, bao bì nhựa khó phân hủy sinh học và sản phẩm, hàng hóa chứa vi nhựa theo quy định tại Quyết định này và quy định pháp luật có liên quan.
4. Ngoài quy định tại khoản 1, 2, 3 Điều này, việc quản lý chất thải nhựa được thực hiện như quản lý chất thải rắn sinh hoạt.