Điều 15. Tỷ lệ tặng Bằng khen của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh
1. Tỷ lệ xét đề nghị tặng Bằng khen của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh đối với khen thưởng theo công trạng và thành tích đạt được như sau:
a) Đơn vị được bình chọn dẫn đầu Khối Thi đua do tỉnh tổ chức: được xét đề nghị không quá 30% tổng số tập thể thuộc đơn vị; 15% tổng số người lao động của đơn vị;
b) Đơn vị, địa phương được bình chọn xếp hạng nhì, ba trong Khối Thi đua do tỉnh tổ chức: được xét đề nghị không quá 20% tổng số tập thể thuộc đơn vị; 10% tổng số người lao động của đơn vị;
c) Các đơn vị, địa phương còn lại: được xét đề nghị không quá 10% tổng số tập thể thuộc đơn vị; 5% tổng số người lao động của đơn vị;
d) Riêng Ngành Giáo dục và Đào tạo, căn cứ vào thứ hạng đạt được của Phòng Giáo dục và Đào tạo trong Khối Thi đua do Sở Giáo dục và Đào tạo hướng dẫn để đề nghị khen thưởng theo tỷ lệ được quy định tại các Điểm a, b, c Khoản 1 Điều này.
2. Xét, đề nghị tặng Bằng khen của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh đối với khen thưởng đột xuất, theo chuyên đề (theo đợt) như sau:
a) Căn cứ vào tiêu chuẩn, số lượng được quy định cụ thể trong các hướng dẫn liên ngành giữa Sở Nội vụ với Thường trực các Ban Chỉ đạo, Hội đồng, đơn vị để đề nghị khen thưởng;
b) Đối với khen thưởng thành tích hoạt động nhiệm kỳ, sơ kết, tổng kết thực hiện Luật, Nghị định, Chỉ thị, Nghị quyết,… phải có chủ trương đồng ý khen thưởng của Tỉnh ủy hoặc Ủy ban nhân dân tỉnh.
3. Quy định về việc làm tròn khi tính tỷ lệ đề nghị tặng Bằng khen của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh: số lượng tặng Bằng khen của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh là số tự nhiên, do đó khi tính tỷ lệ đề nghị, nếu chữ số sau số đơn vị bằng 05 trở lên thì được tăng thêm 01 đơn vị, nhỏ hơn thì không tính.