Điều 6. Căn cứ cấp phép
1. Việc cấp phép thăm dò, khai thác tài nguyên nước, xả nước thải vào lưu vực nguồn nước phải trên cơ sở các căn cứ sau đây:
a) Luật Tài nguyên nước và văn bản pháp luật có liên quan;
b) Luật Bảo vệ môi trường và các văn bản pháp luật có liên quan;
c) Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, ngành, vùng và địa phương;
d) Quy hoạch lưu vực sông được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt theo quy định của pháp luật; trường hợp chưa có quy hoạch lưu vực sông thì căn cứ vào khả năng nguồn nước;
e) Mức độ chi tiết của việc thăm dò nước dưới đất và đánh giá trữ lượng có thể khai thác, khả năng xử lý chất lượng nước đạt tới quy chuẩn của mục đích sử dụng nước (đối với khai thác nước dưới đất); Mức độ chi tiết của việc đánh giá nguồn cấp nước, khả năng xử lý chất lượng nước đạt tới quy chuẩn của mục đích sử dụng nước (đối với khai thác nước mặt); Lưu lượng, chất lượng mong muốn của lưu vực nguồn nước tiếp nhận và quy trình công nghệ xử lý nước thải, quy chuẩn chất lượng nước thải đối với từng loại lưu vực nguồn nước tiếp nhận cụ thể (đối với xả thải vào nguồn nước).
f) Báo cáo thẩm định về hồ sơ xin phép thăm dò, khai thác tài nguyên nước, xả nước thải vào lưu vực nguồn nước của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
g) Các Quy định về vùng bảo hộ vệ sinh, vùng hạn chế khai thác, vùng cấm khai thác và độ sâu khai thác do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành.
2. Các số liệu sử dụng để lập Đề án, Báo cáo phải nêu rõ nguồn gốc. Các tài liệu nguồn gốc phải được các cơ quan chuyên môn có thẩm quyền đánh giá và công bố. Việc lập các Đề án, Báo cáo, Phương án xử lý nước để đạt đến tiêu chuẩn quy định phải do các cơ quan có chức năng chuyên môn thực hiện hoặc chấp thuận. Đề án trình duyệt cần có đóng dấu giáp lai của cơ quan đề nghị cấp phép.
Giao Sở Tài nguyên và Môi trường căn cứ vào Cơ sở dữ liệu tài nguyên nước thu thập được của từng thời gian công bố danh mục các khu vực cần hạn chế khai thác và danh mục các khu vực cấm khai thác, chiều sâu mực nước cho phép khai thác cho các khu vực.