Điều 10. Trình tự thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng mặt nước biển để nuôi trồng thủy sản
1. Hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng mặt nước biển:
Người đang sử dụng mặt nước biển được giao để nuôi trồng thủy sản mà chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng mặt nước biển nếu có nhu cầu cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng mặt nước biển thì lập hồ sơ để được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng mặt nước biển để sử dụng vào mục đích nuôi trồng thủy sản. Hồ sơ được lập thành một (01) bộ gồm những văn bản sau:
a. Đối với cá nhân được giao mặt nước biển. Hồ sơ gồm có:
- Đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng mặt nước biển có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có mặt nước biển được giao kèm theo trích đo, trích lục sơ đồ, bản đồ khu mặt nước biển được giao.
- Quyết định giao mặt nước biển để nuôi trồng thủy sản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
- Bản cam kết bảo vệ môi trường đã được xác nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
- Văn bản thỏa thuận quy hoạch nuôi trồng thủy sản của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Kiên Giang đối với diện tích mặt nước biển được giao (ở các vùng biển chưa có quy hoạch phát triển nuôi trồng thủy sản).
Hồ sơ được nộp tại Bộ phận nhận và giao trả kết quả thuộc Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố nơi có mặt nước biển mà cá nhân được giao.
b. Đối với tổ chức, cá nhân đang thuê mặt nước biển để nuôi trồng thủy sản. Hồ sơ gồm có:
- Đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng mặt nước biển kèm theo trích đo, trích lục sơ đồ, bản đồ khu mặt nước biển đang thuê;
- Quyết định cho thuê, hợp đồng thuê mặt nước biển để nuôi trồng thủy sản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
- Báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc bản cam kết bảo vệ môi trường được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt;
- Văn bản thỏa thuận quy hoạch nuôi trồng thủy sản của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Kiên Giang đối với diện tích mặt nước biển đang thuê (ở các vùng biển chưa có quy hoạch phát triển nuôi trồng thủy sản).
Hồ sơ được nộp tại Bộ phận nhận và giao trả kết quả thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường.
c. Đối với tổ chức, cá nhân đang sử dụng mặt nước biển để nuôi trồng thủy sản.
- Thời điểm sử dụng mặt nước biển trước ngày 01 tháng 7 năm 2004. Hồ sơ gồm có:
+ Đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng mặt nước biển kèm theo trích đo, trích lục sơ đồ, bản đồ khu mặt nước biển đang sử dụng;
+ Báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc bản cam kết bảo vệ môi trường được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt;
+ Văn bản thỏa thuận quy hoạch nuôi trồng thủy sản của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Kiên Giang đối với diện tích mặt nước biển đang sử dụng (ở các vùng biển chưa có quy hoạch phát triển nuôi trồng thủy sản);
+ Bản tự kê khai về hiện trạng sử dụng mặt nước biển để nuôi trồng thủy sản của cá nhân, tổ chức được Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có mặt nước biển đang sử dụng xác nhận.
Hồ sơ được nộp tại Bộ phận nhận và giao trả kết quả thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường.
- Thời điểm sử dụng mặt nước biển để sử dụng vào mục đích nuôi trồng thủy sản từ ngày 01 tháng 7 năm 2004 trở về sau: tổ chức, cá nhân phải lập hồ sơ giao mặt nước biển, cho thuê mặt nước biển theo Điều 7 của Bản quy định này.
2. Trình tự thực hiện:
a. Đối với cá nhân đang sử dụng mặt nước biển được giao để sử dụng vào mục đích nuôi trồng thủy sản mà chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng mặt nước biển có nhu cầu xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng mặt nước biển. Trình tự thực hiện như sau:
- Ngay trong ngày làm việc hoặc chậm nhất là ngày làm việc hôm sau, kể từ khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Bộ phận nhận và trả kết quả của Ủy ban nhân dân cấp huyện chuyển đến cơ quan Tài nguyên và Môi trường cấp huyện;
- Trong thời gian 20 ngày làm việc, cơ quan Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm thẩm tra hồ sơ xác minh thực địa, thực hiện việc trích lục, trích đo địa chính, lập tờ trình, in giấy chứng nhận quyền sử dụng mặt nước biển và chuyển hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng mặt nước biển đến Bộ phận nhận và trả kết quả thuộc Ủy ban nhân dân huyện;
- Trong thời gian 05 ngày làm việc Bộ phận nhận và trả kết quả thuộc Ủy ban nhân dân huyện có trách nhiệm trình Ủy ban nhân dân huyện, thị xã, thành phố xem xét ký giấy chứng nhận quyền sử dụng mặt nước biển;
- Trong thời gian 05 ngày làm việc Ủy ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm xem xét ký giấy chứng nhận quyền sử dụng mặt nước biển và chuyển cho Bộ phận nhận và trả kết quả;
- Sau khi nhận được giấy chứng nhận quyền sử dụng mặt nước biển đã ký, Bộ phận nhận và trả kết quả thuộc Ủy ban nhân dân huyện trao giấy chứng nhận quyền sử dụng mặt nước biển cho người xin cấp giấy chứng nhận; chuyển hồ sơ về cơ quan Tài nguyên và Môi trường để thực hiện việc chỉnh lý và lưu trữ hồ sơ.
Thời gian nói trên không tính đến thời gian người được cấp giấy chứng nhận mặt nước biển thực hiện nghĩa vụ tài chính (nếu có).
b. Đối với tổ chức, cá nhân đang sử dụng mặt nước biển được Nhà nước cho thuê sử dụng vào mục đích nuôi trồng thủy sản mà chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng mặt nước biển có nhu cầu xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng mặt nước biển. Trình tự thực hiện như sau:
- Trong thời gian 20 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, cơ quan Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm thực hiện:
+ Thẩm tra hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng mặt nước biển để nuôi trồng thủy sản;
+ Lập tờ trình, in giấy chứng nhận quyền sử dụng mặt nước biển trình đến Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét ký giấy chứng nhận quyền sử dụng mặt nước biển cho tổ chức, cá nhân có nhu cầu;
+ Gửi thông tin địa chính đến cơ quan thuế để xác định nghĩa vụ tài chính.
- Trong thời gian 05 ngày làm việc sau khi nhận được tờ trình của Sở Tài nguyên và Môi trường gửi đến. Ủy ban nhân dân tỉnh có trách nhiệm xem xét và ký giấy chứng nhận quyền sử dụng mặt nước biển gửi đến Sở Tài nguyên và Môi trường;
- Trong thời gian 05 ngày làm việc, kể từ khi nhận được giấy chứng nhận quyền sử dụng mặt nước biển đã ký, Sở Tài nguyên và Môi trường trao giấy chứng nhận quyền sử dụng mặt nước biển và tổ chức, cá nhân được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng mặt nước biển sau khi đã hoàn thành việc thực hiện nghĩa vụ tài chính.
Thời gian nói trên không tính đến thời gian người thuê mặt nước biển thực hiện nghĩa vụ tài chính.