Điều 8. Phối hợp tự kiểm tra, xử lý văn bản trái pháp luật
1. Khi kiểm tra văn bản, công chức được phân công kiểm tra văn bản phát hiện văn bản cần xử lý theo quy định tại điểm a, điểm b khoản 2 Điều 5 Quy chế này phải lập Phiếu kiểm tra theo Mẫu số 01, Phụ lục III kèm theo Nghị định số 34/2016/NĐ-CP và có trách nhiệm báo cáo Thủ trưởng cơ quan xem xét kết quả kiểm tra.
2. Việc phối hợp được thực hiện bằng hình thức gửi văn bản lấy ý kiến thì cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản có trách nhiệm trả lời bằng văn bản, nêu rõ ý kiến về những nội dung trái pháp luật và hình thức xử lý văn bản trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đề nghị của người có trách nhiệm tự kiểm tra.
3. Người có trách nhiệm tự kiểm tra lập hồ sơ kiểm tra văn bản theo Điều 110 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung tại khoản 19 Điều 1 Nghị định số 154/2020/NĐ-CP kết hợp với ý kiến cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản (nếu có), báo cáo kết quả kiểm tra văn bản đến cơ quan đã ban hành văn bản đó.
Trường hợp người có trách nhiệm tự kiểm tra và cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản chưa có sự thống nhất ý kiến về nội dung trái pháp luật, hướng xử lý văn bản thì người có trách nhiệm tự kiểm tra văn bản phải nêu rõ ý kiến của các bên trong báo cáo kết quả kiểm tra để trình cơ quan ban hành văn bản quyết định hình thức xử lý văn bản.
4. Cơ quan ban hành văn bản kịp thời xử lý văn bản trái pháp luật; công bố kết quả xử lý thông qua việc đăng tải trên Công báo tỉnh, Trang thông tin điện tử của đơn vị hoặc niêm yết theo quy định tại Điều 98 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP.