vanban.org

Điều 7. Lưu trữ, khai thác văn bản điện tử đã ký số — Quyết định 34/2019/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Còn hiệu lực · từ 25/09/2019 Phiên bản mới nhất trong dòng đời trên hệ thống Không bị thay thế bởi văn bản nào
Phú Yên Ban hành 12/09/2019 Hiệu lực 25/09/2019 Còn hiệu lực
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 34/2019/QĐ-UBND › Chương II › Điều 7
Đọc toàn văn

Điều 7. Lưu trữ, khai thác văn bản điện tử đã ký số

1. Lưu trữ văn bản điện tử đã ký số:

a) Trường hợp nhận văn bản đến bằng văn bản điện tử có sử dụng chữ ký số qua trục liên thông, văn thư các cơ quan, tổ chức phải thực hiện ngay việc chuyển văn bản đến vào hệ thống quản lý văn bản và điều hành đơn vị mình, chuyển xử lý trong nội bộ cơ quan, tổ chức mà không cần thực hiện việc in văn bản ra giấy và đóng dấu đến.

b) Văn bản điện tử được ký số khi lưu trữ phải là dạng nguyên bản, không bị thay đổi sai lệch theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử.

c) Văn bản điện tử được ký số phải được lưu trữ có tổ chức, khoa học bảo đảm cho việc tìm kiếm, tra cứu được dễ dàng, thuận tiện.

d) Sau khi gửi, nhận các văn bản điện tử được ký số phải thực hiện lưu trữ trên hệ thống máy chủ, định kỳ hàng tháng sao lưu sang các thiết bị lưu trữ chuyên dùng và phải được cất giữ tại nơi đảm bảo an toàn, an ninh thông tin.

2. Khai thác, sử dụng văn bản điện tử lưu trữ:

a) Văn bản điện tử đã ký số đang lưu trữ được chuyển đổi thành chứng từ giấy để phục vụ cho công tác chuyên môn của các cơ quan, tổ chức (nếu cần thiết).

b) Văn bản có ký số được in ra giấy có giá trị pháp lý tương đương với văn bản giấy có chữ ký và con dấu cơ quan khi được sao y theo quy định của pháp luật.

c) Việc khai thác sử dụng văn bản điện tử phải tuân thủ theo các quy định của Nhà nước và các văn bản hướng dẫn của Bộ Nội vụ, Bộ Thông tin và Truyền thông.