vanban.org

Điều 12. Quản lý và sử dụng tiền lãi cho vay — Quyết định 34/2017/QĐ-UBND

Ninh Bình Ban hành 23/10/2017 Hiệu lực 04/11/2017 Hết hiệu lực một phần
Dòng đời phiên bản 2 đời quyết định · 4 phiên bản · 9 năm
Quyết định số 34/2017/QĐ-UBND ban hành Quy chế quản lý và sử dụng nguồn vốn ngân sách địa phương ủy thác qua Chi nhánh Ngân hàng chính sách xã hội tỉnh Ninh Bình, Phòng Giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội các huyện, thành phố để cho vay đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác trên địa bàn tỉnh Ninh Bình · 34/2017/QĐ-UBND
10/06/202573/2025/QĐ-UBNDSửa đổi Hiện hành 04/11/2017Bản gốcThay thế
Quyết định số 33/2016/QĐ-UBND Sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 9 Quy chế tạo lập, quản lý và sử dụng nguồn vốn từ ngân sách tỉnh Ninh Bình ủy thác qua Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh Ninh Bình để cho vay đối với hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác trên địa bàn tỉnh Ninh Bình ban hành kèm theo Quyết định số 21/2016/QĐ-UBND ngày 09/8/2016 của UBND tỉnh Ninh Bình · 33/2016/QĐ-UBND
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 34/2017/QĐ-UBND › Chương II › Điều 12
Đọc toàn văn

Điều 12. Quản lý và sử dụng tiền lãi cho vay

1. NHCSXH tỉnh, Phòng Giao dịch quản lý và hạch toán số tiền lãi thu được từ hoạt động cho vay bằng nguồn vốn ngân sách địa phương vào thu nhập của NHCSXH tỉnh, Phòng Giao dịch và quản lý, sử dụng theo nguyên tắc thứ tự ưu tiên sau:

a) Trích lập dự phòng rủi ro tín dụng chung theo quy định tại Quyết định số 30/2015/QĐ-TTg ngày 31/7/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế quản lý tài chính đối với NHCSXH ban hành kèm theo Quyết định số 180/2002/QĐ-TTg ngày 19 tháng 12 năm 2002 của Thủ tướng Chính phủ và các văn bản hướng dẫn của Bộ trưởng Bộ Tài chính.

Trường hợp tại thời điểm trích lập dự phòng rủi ro tín dụng, tỷ lệ nợ quá hạn và nợ khoanh thấp hơn 0,75% thì Quỹ dự phòng rủi ro tín dụng tối đa bằng 0,75% tính trên số dư nợ cho vay (không bao gồm nợ quá hạn và nợ khoanh).

b) Trích phí quản lý nguồn vốn ủy thác cho NHCSXH tỉnh, Phòng Giao dịch theo dư nợ cho vay bình quân. Mức phí quản lý tối thiểu bằng mức phí quản lý do Thủ tướng Chính phủ giao cho Ngân hàng Chính sách xã hội trong từng thời kỳ. Trường hợp lãi thu được sau khi trích quỹ dự phòng rủi ro tín dụng chung không đủ trích phí quản lý cho NHCSXH tỉnh, Phòng Giao dịch theo quy định thì ngân sách địa phương cấp bù phần còn thiếu cho NHCSXH tỉnh, Phòng Giao dịch nơi nhận ủy thác.

Điểm c Khoản 1 Điều 12 đã bị bãi bỏ bởi 73/2025/QĐ-UBND, hiệu lực từ 10/06/2025. Xem nội dung trước khi bị bãi bỏ

d) Trích phí chi cho công tác chỉ đạo, quản lý, tổng hợp, kiểm tra, giám sát, khen thưởng của các cấp, Ban đại diện Hội đồng quản trị NHCSXH tỉnh, Ban đại diện Hội đồng quản trị NHCSXH cấp huyện, các Sở, ngành, đơn vị liên quan đến hoạt động cho vay bằng nguồn vốn NHCSXH tỉnh, Phòng Giao dịch nhận ủy thác từ ngân sách địa phương, cụ thể:

Đối với số lãi thu được từ cho vay nguồn vốn ngân sách tỉnh ủy thác: NHCSXH tỉnh trích 15% số tiền lãi thu được để chi cho công tác chỉ đạo, quản lý, tổng hợp, kiểm tra, giám sát, khen thưởng.

Đối với số lãi thu được từ cho vay nguồn vốn ngân sách cấp huyện ủy thác: Phòng Giao dịch trích 15% số tiền lãi thu được để chi cho công tác chỉ đạo, quản lý, tổng hợp, kiểm tra, giám sát, khen thưởng.

e) Phần còn lại (nếu có) được bổ sung vào nguồn vốn cho vay.

Sửa đổi bởi 73/2025/QĐ-UBND · hiệu lực 10/06/2025

2. Nội dung chi và mức chi cho công tác chỉ đạo, quản lý, tổng hợp, kiểm tra, giám sát, khen thưởng thực hiện theo chế độ chi tiêu tài chính hiện hành

3. Trường hợp lãi suất cho vay không đủ bù đắp các khoản chi phí về trích lập dự phòng rủi ro tín dụng; chi phí quản lý cho NHCSXH tỉnh, Phòng Giao dịch; chi phí cho công tác chỉ đạo, quản lý, tổng hợp, kiểm tra, giám sát, khen thưởng thì UBND các cấp cấp kinh phí bù đắp theo quy định, cụ thể:

a) Nguồn vốn ngân sách tỉnh ủy thác: NHCSXH tỉnh phối hợp với Sở Tài chính tham mưu, đề xuất với UBND tỉnh cấp kinh phí bù đắp từ nguồn ngân sách tỉnh.

b) Nguồn vốn ngân sách cấp huyện ủy thác: NHCSXH tỉnh, Phòng Giao dịch phối hợp với Phòng Tài chính - Kế hoạch thuộc UBND các huyện, thành phố tham mưu, đề xuất với UBND huyện, thành phố cấp kinh phí bù đắp từ nguồn ngân sách cấp huyện.