Điều 4. Đối với các hành vi chuyển mục đích đất trồng lúa; đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ, đất rừng sản xuất; đất nông nghiệp không phải là đất trồng lúa, không phải là đất rừng phòng hộ, không phải là đất rừng đặc dụng, không phải là đất rừng sản xuất; đất phi nông nghiệp sang mục đích khác không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép theo quy định tại các Điều 9, 10, 11, 12 Nghị định số 91/2019/NĐ-CP
1. Trường hợp diện tích đất vi phạm do chuyển mục đích sử dụng mà theo quy hoạch sử dụng đất được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt vẫn không thay đổi so với mục đích ban đầu của đất trước khi vi phạm thì buộc người vi phạm phải khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm.
2. Trường hợp diện tích đất có vi phạm mà nay đã thay đổi quy hoạch cho mục đích khác (trừ trường hợp đủ điều kiện công nhận quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 22 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP) thì xử lý như sau:
a) Trường hợp chuyển mục đích sử dụng đất trong cùng nhóm đất nông nghiệp hoặc trong cùng nhóm đất phi nông nghiệp (trừ diện tích đất ở chuyển sang mục đích phi nông nghiệp khác) mà tại thời điểm phát hiện vi phạm phù hợp với quy hoạch sử dụng đất thì yêu cầu đối tượng vi phạm giữ nguyên hiện trạng như tại thời điểm phát hiện vi phạm.
b) Trường hợp diện tích đất chuyển mục đích có vi phạm mà dự án đã có quyết định chủ trương đầu tư hoặc đã thực hiện xong thủ tục cho phép đầu tư và tại thời điểm phát hiện vi phạm phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt thì không buộc đối tượng vi phạm khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm, yêu cầu đối tượng vi phạm giữ nguyên hiện trạng như tại thời điểm phát hiện vi phạm.
c) Các trường hợp tự chuyển mục đích trái phép không có quy định tại các điểm a, b khoản 2 Điều này thì buộc đối tượng vi phạm phải khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm.