Điều 21. Trách nhiệm của cơ quan, đơn vị, địa phương và người đứng đầu cơ quan, đơn vị, địa phương trực tiếp quản lý bí mật nhà nước
1. Tổ chức thực hiện công tác bảo vệ bí mật nhà nước theo quy định của Quy chế này và các văn bản pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước của Chính phủ, Bộ Công an.
2. Ban hành nội quy bảo vệ bí mật nhà nước; chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện quy định của pháp luật và nội quy bảo vệ bí mật nhà nước thuộc phạm vi cơ quan, đơn vị, địa phương quản lý.
3. Phân công cán bộ kiêm nhiệm thực hiện công tác bảo vệ bí mật nhà nước (việc phân công phải thể hiện bằng văn bản) và thông báo danh sách cán bộ được phân công trong báo cáo sơ kết hàng năm gửi về Công an tỉnh.
4. Tuyên truyền, giáo dục cán bộ, cá nhân thuộc thẩm quyền quản lý nâng cao trách nhiệm, cảnh giác và nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước.
5. Kiểm tra công tác bảo vệ bí mật nhà nước trong phạm vi cơ quan, đơn vị, địa phương phụ trách; phối hợp với các đơn vị chức năng trong thanh, kiểm tra về bảo vệ bí mật nhà nước; thông báo kịp thời với cơ quan Công an cùng cấp khi xảy ra lộ, mất bí mật nhà nước thuộc phạm vi quản lý và phối hợp xử lý.
6. Tổ chức thu hồi tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước khi người được phân công quản lý bí mật nhà nước thôi việc, chuyển công tác, nghỉ hưu, từ trần hoặc vì lý do khác mà không được phân công tiếp tục quản lý bí mật nhà nước.
7. Thực hiện chế độ báo cáo về công tác bảo vệ bí mật nhà nước theo quy định.
8. Sở Tài chính chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị, địa phương liên quan tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh bố trí kinh phí phục vụ nhiệm vụ bảo vệ bí mật nhà nước theo quy định.
9. Sở Nội vụ có trách nhiệm phối hợp với Công an tỉnh thẩm định, trình Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định các hình thức khen thưởng về bảo vệ bí mật nhà nước; phối hợp tham mưu xử lý cán bộ, công chức, viên chức vi phạm pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước.