Điều 7. Trách nhiệm của cơ sở nuôi tôm và cơ sở nuôi tôm an toàn
1.Trách nhiệm của cơ sở nuôi tôm:
a. Chủ cơ sở trong vùng nuôi tôm là thành viên của vùng nuôi tôm, có trách nhiệm chấp hành Điều lệ tổ chức và hoạt động và chịu sự chỉ đạo của Ban quản lý vùng nuôi tôm.
b. Ngoài việc phải chấp hành nghiêm túc các quy định tại các Điều: 4, 5, 6 của Quy chế này, các cơ sở nuôi tôm còn phải thực hiện các quy định:
- Tham gia xây dựng và thực hiện các quy định cụ thể về vùng nuôi, hợp tác, chia sẻ thông tin để nâng cao nhận thức, hiểu biết giữa các cơ sở nuôi tôm trong vùng.
- Chịu sự giám sát, kiểm tra, thanh tra của cơ quan chuyên môn. Cung cấp đầy đủ và trung thực thông tin diễn biến môi trường, bệnh dịch và mẫu tôm nuôi để phân tích dư lượng hóa chất độc hại theo yêu cầu của cơ quan kiểm tra. Chủ động phối hợp với các cơ quan chuyên môn trong việc tìm phương án và xử lý môi trường khi có sự cố hoặc dịch bệnh xảy ra.
2- Trách nhiệm của cơ sở nuôi tôm an toàn:
a. Chủ cơ sở nuôi tôm an toàn phải đảm bảo cơ sở có đủ điều kiện về vệ sinh thú y theo quy định tại khoản 2, Điều 7 của Nghị định số 33/2005/NĐ-CP ngày 15/3/2005 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Thú y; phải đăng ký kinh doanh nuôi tôm theo quy định tại Điều 12 Nghị định số 59/2005/NĐ-CP ngày 04/5/2005 của Chính phủ về điều kiện sản xuất, kinh doanh một số ngành nghề thủy sản; khi đã đăng ký cơ sở nuôi tôm an toàn phải áp dụng quy phạm thực hành nuôi tốt (GAP) và quy phạm thực hành nuôi có trách nhiệm (CoC) theo lộ trình của Bộ Thủy sản.
b. Khi đã được công nhận là cơ sở nuôi tôm an toàn, phải duy trì sản phẩm tôm nuôi không có dư lượng các chất đã bị cấm sử dụng, hàm lượng các chất gây hại như: kim loại nặng, hóa chất tẩy trùng, thuốc bảo vệ thực vật, kháng sinh sử dụng,... không vượt quá giới hạn cho phép. Hạn chế đến mức thấp nhất tác nhân làm sản phẩm tôm nuôi bị nhiễm vi sinh vật gây bệnh cho người tiêu dùng.