Điều 17. Giá trị pháp lý của các loại văn bản điện tử được ký số
1. Văn bản điện tử được ký số bởi chữ ký số hợp pháp của cá nhân có giá trị pháp lý tương đương với văn bản giấy có cùng nội dung, được ký tay bởi chính cá nhân người đó (không có con dấu).
2. Văn bản điện tử được ký số bởi chữ ký số hợp pháp của người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về quản lý và sử dụng con dấu, có giá trị pháp lý tương đương với văn bản giấy có cùng nội dung được người có thẩm quyền đó ký tay và được đóng dấu theo quy định.
3. Văn bản điện tử được số hóa nguyên bản từ văn bản giấy đã được ký và đóng dấu có giá trị tương đương với văn bản giấy nếu được ký số bởi chữ ký số hợp pháp của cơ quan ban hành văn bản giấy đó.
4. Trong trường hợp văn bản điện tử tương ứng của văn bản giấy cần nhiều chữ ký tay và con dấu của các bên liên quan theo quy định, thì văn bản điện tử đó sẽ có giá trị pháp lý tương đương với văn bản giấy khi được ký số đầy đủ bởi chữ ký số hợp pháp của các bên tương ứng.
5. Dấu giáp lai, dấu treo:
a) Chữ ký số đảm bảo tính toàn vẹn của văn bản điện tử nên trường hợp văn bản điện tử (có nhiều trang trong cùng một tệp - file) được ký số bởi chữ ký số hợp pháp thì có giá trị bao gồm giá trị tương ứng của dấu giáp lai trên văn bản giấy.
b) Nếu văn bản điện tử có các tài liệu, phụ lục kèm theo cùng nằm trong một tệp (file) với văn bản chính được ký số bởi chữ ký số hợp pháp thì các tài liệu, phụ lục kèm theo đó có giá trị tương đương với bản giấy có dấu treo hợp pháp của các tài liệu, phụ lục tương ứng. Nếu các tài liệu, phụ lục kèm theo không cùng nằm trong một tệp (file) với văn bản chính thì các tài liệu, phụ lục đi kèm phải được ký số bởi chữ ký số hợp pháp của cơ quan ban hành văn bản mới đảm bảo giá trị pháp lý tương đương văn bản giấy có dấu treo của cơ quan đó.