Điều 11. Giá khởi điểm và bước giá để đấu giá
1. Giá khởi điểm để đấu giá:
a) Nguyên tắc xác định giá khởi điểm:
Giá khởi điểm đấu giá để giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất được xác định theo nguyên tắc sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền thuê đất thực tế trong điều kiện bình thường tại thời điểm theo mục đích sử dụng mới của thửa, lô đất đấu giá; giá khởi điểm không được thấp hơn mức giá đất, giá thuê đất do Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành và công bố vào ngày 01 tháng 01 hàng năm theo quy định của Chính phủ.
b) Thẩm quyền quyết định giá khởi điểm để đấu giá
Uỷ ban nhân dân tỉnh uỷ quyền cho:
- Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định giá khởi điểm đấu giá đối với các trường hợp: Đấu giá quyền sử dụng đất của dự án sử dụng quỹ đất tạo vốn cho đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, đấu giá cho thuê đất thuộc tỉnh; đất ở đô thị (thành phố, thị trấn) sau khi có ý kiến thẩm định bằng văn bản của Sở Tài chính;
- Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện, thành phố phê duyệt giá khởi điểm đấu giá đối với trường hợp: Đấu giá để giao đất có thu tiền sử dụng đất đối với thửa đất, lô đất ở nông thôn và đất thuộc quỹ đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích xã, phường, thị trấn để sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản.
2. Bước giá
Bước giá là phần chênh lệch giữa mức giá trả cao nhất của vòng đấu trước trực tiếp với mức giá do Hội đồng đấu giá hoặc tổ chức của Nhà nước có chức năng đấu giá quyền sử dụng đất công bố cho vòng đấu tiếp theo; tuỳ thuộc vào giá trị của dự án, khu đất, thửa đất, lô đất đem đấu giá mà bước giá được quy định từ 01% đến 10% so với giá khởi điểm; mức cụ thể do Hội đồng đấu giá quyết định cho từng phiên đấu giá, đảm bảo phù hợp với tình hình thực tế; căn cứ đặc điểm, tính chất của từng phiên đấu giá Hội đồng đấu giá có thể quy định công bố bước giá hoặc không quy định không công bố bước giá.