Điều 7. Đối với trường hợp thửa đất ở có vườn, ao đã được hình thành từ ngày 18/12/1980 đến trước ngày 01/7/2004 và người đang sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất theo quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 Luật Đất đai năm 2003
1. Trường hợp ranh giới thửa đất được xác định trong hồ sơ địa chính hoặc trên giấy tờ về quyền sử dụng đất có ghi nhận rõ ranh giới thửa đất ở (hoặc thổ cư) thì toàn bộ diện tích đó được xác định là đất ở nhưng tổng diện tích không vượt quá diện tích đất thực tế mà hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng.
2. Trường hợp ranh giới thửa đất chưa được xác định trong hồ sơ địa chính hoặc trên giấy tờ về quyền sử dụng đất thì hạn mức công nhận đất ở được xác định theo các điểm a, b dưới đây nhưng tổng diện tích không vượt quá diện tích đất thực tế mà hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng:
a. Các phường, thị trấn: hạn mức công nhận đất ở là 300 m2 đối với hộ gia đình có từ 6 nhân khẩu trở xuống; hạn mức công nhận đất ở là 450 m2 đối với hộ gia đình có từ 7 nhân khẩu trở lên.
b. Các xã: hạn mức công nhận đất ở là 800 m2 đối với hộ gia đình có từ 6 nhân khẩu trở xuống; hạn mức công nhận đất ở là 1200 m2 đối với hộ gia đình có từ 7 nhân khẩu trở lên.