Điều 14. Chế độ thông tin, báo cáo
1) Cơ quan, người có văn bản được kiểm tra có trách nhiệm cung cấp đầy đủ những thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung văn bản kiểm tra theo yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền kiểm tra theo quy định của pháp luật.
2) Hàng quý, sáu tháng, năm, thủ trưởng các sở, ngành tỉnh: Chủ tịch Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã báo cáo kết quả thực hiện công tác kiểm tra và tự kiểm tra, xử lý văn bản về Ủy ban nhân dân tỉnh (thông qua Sở Tư pháp); Chủ tịch Ủy ban nhân dân các xã, phường, thị trấn; thủ trưởng các phòng, ban huyện báo cáo kết quả thực hiện công tác kiểm tra xử lý văn bản về Ủy ban nhân dân huyện (thông qua Phòng Tư pháp).
3) Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp phải mở sổ theo dõi hoạt động kiểm tra, xử lý văn bản ở địa phương, trong đó 1 sổ theo dõi hoạt động kiểm tra chung và 1 sổ theo dõi văn bản có dấu hiệu trái pháp luật; lập hồ sơ lưu trữ riêng cho từng loại văn bản (văn bản tự kiểm tra, văn bản kiểm tra và văn bản có dấu hiệu trái pháp luật).