Điều 18. Thẩm quyền phê duyệt quyết toán vốn đầu tư xây dựng
1. Đối với dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn đầu tư công và dự án đầu tư xây dựng bằng nguồn kinh phí chi thường xuyên ngân sách nhà nước, nguồn phí được để lại theo chế độ quy định để chi thường xuyên:
a) Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt quyết toán vốn đầu tư xây dựng các dự án do mình quyết định đầu tư theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 7 Quy định này;
b) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã phê duyệt quyết toán vốn đầu tư xây dựng các dự án do mình quyết định đầu tư theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 7 Quy định này;
c) Người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập phê duyệt quyết toán vốn đầu tư xây dựng các dự án do mình quyết định đầu tư theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 7 Quy định này;
d) Ủy quyền cho Giám đốc Sở Tài chính phê duyệt quyết toán vốn đầu tư xây dựng các dự án chỉ yêu cầu lập Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh ủy quyền cho Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư quyết định đầu tư theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 7 Quy định này;
đ) Các công trình sửa chữa, bảo trì, cải tạo, nâng cấp, mở rộng được đầu tư bằng nguồn kinh phí chi thường xuyên ngân sách nhà nước, nguồn phí được để lại theo chế độ quy định để chi thường xuyên có tổng mức đầu tư dưới 500 triệu đồng thực hiện theo quy định của Bộ Tài chính về hướng dẫn xét duyệt, thẩm định và thông báo quyết toán năm đối với cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp.
2. Đối với dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn nhà nước ngoài đầu tư công, trừ dự án theo quy định tại điểm a khoản 10 Điều 35 Nghị định số 10/2021/NĐ-CP, người quyết định đầu tư phê duyệt quyết toán vốn đầu tư xây dựng.
3. Đối với dự án PPP, thẩm quyền phê duyệt quyết toán vốn đầu tư xây dựng được thực hiện theo quy định của pháp luật về đầu tư theo hình thức đối tác công tư.