Điều 15. Hỗ trợ tái định cư
1. Đối với hộ bị thu hồi từ 60% diện tích đất ở trở lên hoặc dưới 60% diện tích đất ở nhưng diện tích đất ở còn lại nhỏ hơn diện tích tối thiểu của đất ở theo quy định tại Quyết định số 36/2008/QĐ-UBND ngày 05 tháng 11 năm 2008 của Ủy ban nhân dân tỉnh hoặc khi Nhà nước thu hồi đất ở mà không có chỗ ở nào khác thì được mua 01 nền đất ở hoặc 01 căn hộ tái định cư, nếu hộ có từ 06 nhân khẩu trở lên thì được mua 02 nền hoặc 02 căn hộ tái định cư.
2. Giá đất tính thu tiền sử dụng đất, giá bán nhà tái định cư và giá cho thuê nhà tái định cư do Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định cho từng dự án cụ thể. Giá tính thu tiền sử dụng đất trong trường hợp này được tính trên cơ sở giá bồi thường về đất cộng với chi phí đầu tư hạ tầng trên đất nhưng không được cao hơn giá đất theo từng mục đích sử dụng đất tại thời điểm thu hồi đất đã được Ủy ban nhân dân tỉnh quy định và công bố hàng năm.
3. Hộ gia đình, cá nhân nhận đất ở, nhà ở tái định cư mà số tiền được bồi thường, hỗ trợ nhỏ hơn giá trị một suất tái định cư của dự án thì được hỗ trợ khoảng chênh lệch đó; trường hợp không nhận đất ở, nhà ở tại khu tái định cư thì được nhận tiền tương đương với khoảng chênh lệch đó.
Suất tái định cư tối thiểu là suất đất ở có đầu tư cơ sở hạ tầng mà diện tích suất đất ở này không được nhỏ hơn 100 mét vuông đối với khu vực nông thôn và 80 mét vuông đối với khu vực đô thị.
4. Đối với những hộ không nhận đất ở, nhà ở hoặc phải di chuyển mà tự lo chỗ ở thì được hỗ trợ một khoản tiền bằng một suất đầu tư hạ tầng tính cho một hộ gia đình tại khu tái định cư tập trung trừ trường hợp đã được nhận khoản tiền hỗ trợ tái định cư quy định tại khoản 3 Điều này.
Suất đầu tư hạ tầng được tính bằng tổng chi phí đầu tư hạ tầng trên một suất đất ở và diện tích suất đất ở không được nhỏ hơn diện tích của suất tái định cư tối thiểu quy định tại khoản 3 Điều này.