vanban.org

Điều 10. Bồi thường về nhà, công trình xây dựng trên đất — Quyết định 31/2009/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Kiên Giang Ban hành 21/12/2009 Hiệu lực 31/12/2009 Hết hiệu lực toàn bộ 1 bản án áp dụng
Dòng đời phiên bản 2 đời quyết định · 3 phiên bản · 18 năm
Quyết định số 31/2009/QĐ-UBND Về việc ban hành Quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Kiên Giang · 31/2009/QĐ-UBND
31/12/2009Bản gốcThay thế Đang xem
Quyết định số 25/2008/QĐ-UBND Về việc ban hành Quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Kiên Giang · 25/2008/QĐ-UBND
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 31/2009/QĐ-UBND › Chương III › Điều 10
Đọc toàn văn

Điều 10. Bồi thường về nhà, công trình xây dựng trên đất

1. Đối với các tài sản hệ thống máy móc, dây chuyền sản xuất,… có thể tháo dỡ và di chuyển được thì được bồi thường các chi phí tháo dỡ, vận chuyển, lắp đặt. Chi phí trên do Hội đồng thẩm định phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư quyết định, nhưng không được vượt quá 30% giá trị còn lại của tài sản đó.

2. Đối với nhà ở, công trình phục vụ sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân được bồi thường bằng giá trị xây dựng mới của nhà, công trình. Mức bồi thường được tính 100% theo giá quy định của Ủy ban nhân dân tỉnh.

3. Đối với nhà, công trình xây dựng khác (không phải là nhà ở, công trình phục vụ sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân) được bồi thường theo mức sau:

Giá trị hiện có của nhà, công trình bị thiệt hại được xác định bằng tỷ lệ phần trăm chất lượng còn lại của nhà, công trình đó nhân với giá trị xây dựng mới của nhà, công trình có tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương do Bộ quản lý chuyên ngành ban hành.

Khoản tiền tính bằng tỷ lệ phần trăm theo giá trị hiện có của nhà, công trình do Ủy ban nhân dân tỉnh quy định, nhưng mức bồi thường tối đa không lớn hơn 100% giá trị xây dựng mới của nhà, công trình có tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương với nhà, công trình bị thiệt hại.

4. Người đang sử dụng nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước (nhà cho thuê hoặc do tổ chức tự quản) nằm trong phạm vi thu hồi đất phải tháo dỡ, thì người đang thuê nhà không được bồi thường đối với diện tích nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước và diện tích cơi nới trái phép, nhưng được bồi thường chi phí cải tạo, sửa chữa, nâng cấp. Mức bồi thường do chủ đầu tư cùng với Hội đồng thẩm định phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tính toán thống nhất và đưa vào phương án bồi thường.

5. Người đang sử dụng nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước bị phá dỡ được thuê nhà tại nơi tái định cư; trường hợp không có nhà tái định cư để bố trí thì được hỗ trợ bằng tiền để tự lo chỗ ở mới, mức hỗ trợ bằng 60% trị giá đất và 60% trị giá nhà đang thuê; trường hợp có nhà tái định cư để bố trí mà người đang sử dụng nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước không có nhu cầu thuê thì không được hỗ trợ bằng tiền.

6. Nhà, công trình bị phá dỡ một phần nhưng vẫn tồn tại và sử dụng được phần còn lại thì được bồi thường phần giá trị nhà, công trình bị phá dỡ đến cột chịu lực gần nhất và được cộng thêm tiền chi phí sửa chữa do Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư quyết định nhưng tối đa không quá 30% giá trị bồi thường của nhà, công trình bị tháo dỡ.

7. Đối với công trình san lấp mặt bằng trên đất nhưng không được bồi thường về đất ở thì được bồi thường khối lượng san lấp mặt bằng theo đơn giá tại thời điểm bồi thường.