Điều 5. Giới hạn diện tích, đối tượng rừng đưa vào kế hoạch làm giảm vật liệu cháy
1. Rừng đưa vào kế hoạch làm giảm vật liệu cháy hàng năm thuộc đối tượng có nguy cơ xảy ra cháy rừng cao, lượng vật liệu cháy tích tụ nhiều. Cụ thể: rừng thông non (trong giai đoạn chăm sóc và nuôi dưỡng) có khối lượng vật liệu cháy tinh vượt trên 0,3 kg/m² (3 tấn/ha); rừng thông lớn có khối lượng vật liệu cháy tinh vượt trên 0,5kg/m² (5 tấn/ha).
2. Diện tích rừng đưa vào thiết kế làm giảm vật liệu cháy hàng năm trong một tiểu khu không vượt quá một phần hai tổng diện tích rừng, đất rừng của tiểu khu rừng đó và không được làm giảm vật liệu cháy tạo diện tích liền vùng quá 50 ha đối với khu rừng có độ dốc dưới 25º, quá 20 ha đối với khu rừng có độ dốc trên 25º. Trong trường hợp có những khu rừng trồng tập trung có diện tích lớn hơn 50 ha ở nơi có độ dốc dưới 25º, hoặc lớn hơn 20 ha đối với khu rừng có độ dốc trên 25º cần xử lý vật liệu cháy trong năm, thì phải tiến hành đốt theo đám hoặc thành băng xen kẽ, với phần diện tích chừa chiếm từ 10 đến 20% tổng diện tích khu rừng.
3. Chu kỳ làm giảm vật liệu cháy trên một diện tích rừng trung bình là 2 năm. ở những nơi thực bì dày rậm, nguy cơ cao khi xảy ra cháy rừng thì có thể tiến hành làm giảm vật liệu cháy hàng năm, nhưng không được thực hiện liên tiếp trong 3 năm (trừ rừng trồng trong giai đoạn chăm sóc, công việc làm giảm vật liệu cháy phải được tiến hành hàng năm).
4. ở nơi có cây tái sinh triển vọng thành rừng mọc từng đám (đạt mật độ trên 500 cây/ha), có diện tích từ 0,1 ha trở lên xen kẽ trong rừng thông lớn, phải áp dụng biện pháp làm giảm vật liệu cháy riêng như đối với rừng non tái sinh tự nhiên (không áp dụng biện pháp chung như rừng thông lớn).