Điều 9.
1. Khi có nhu cầu bảo hiểm, người có nhu cầu phải làm giấy yêu cầu trong đó ghi rõ các điều khoản sau đây:
a) Tên người được bảo hiểm.
b) Tên hàng hoá cần được bảo hiểm.
c) Loại bao bì, cách đóng gói và ký mã hiệu của hàng hoá được bảo hiểm.
d) Trọng lượng hay số lượng hàng hoá được bảo hiểm.
e) Tên tàu biển hoặc loại phương tiện vận chuyển.
f) Cách thức xếp hàng được bảo hiểm xuống tàu (xếp trên boong, dưới hầm, chở rời v.v...)
g) Nơi bắt đầu vận chuyển, chuyển tải và nơi nhận hàng hoá được bảo hiểm.
h) Ngày tháng phương tiện chở hàng bảo hiểm bắt đầu rời bến.
i) Giá trị hàng hoá được bảo hiểm và số tiền được bảo hiểm.
j) Điều kiện bảo hiểm.
k) Nơi thanh toán bồi thường.
Ngoài ra người có nhu cầu bảo hiểm còn phải báo cho người bảo hiểm biết những tình huống quan trọng khác mà họ biết để giúp cho người bảo hiểm phán đoán rủi ro.
Nếu ký hợp đồng bảo hiểm, người có nhu cầu bảo hiểm chưa thể cung cấp đầy đủ những thông tin cần thiết nói trên thì họ có trách nhiệm báo tiếp cho người bảo hiểm biết những chi tiết còn thiếu ngay khi họ được biết.
2. Hợp đồng bảo hiểm coi như đã được ký kết khi người bảo hiểm chấp nhận bảo hiểm bằng văn bản.
Người bảo hiểm sẽ căn cứ và giấy yêu cầu bảo hiểm để cấp đơn bảo hiểm hoặc giấy chứng nhận bảo hiểm.
3. Trừ khi có thoả thuận khác, người được bảo hiểm phải thanh toán phí bảo hiểm cho người bảo hiểm ngay nhận đơn bảo hiểm hay giấy chứng nhận bảo hiểm. Người bảo hiểm có quyền huỷ bỏ hợp đồng bảo hiểm nếu phí bảo hiểm không thanh toán đúng thời hạn đã quy định.
4. Nếu sau khi hợp đồng bảo hiểm được ký kết mà có bất kỳ thay đổi nào về rủi ro được bảo hiểm, đặc biệt nếu vì thay đổi đó mà làm tăng thêm nguy hiểm thì người được bảo hiểm có trách nhiệm thông báo cho người bảo hiểm biết sự thay đổi đó ngay khi họ được biết.
Khi nhận được thông báo này, người bảo hiểm sẽ cấp giấy sửa đổi, bổ sung và có thể căn cứ vào sự việc thay đổi đó mà yêu cầu người được bảo hiểm trả thêm phí bảo hiểm.