Điều 56. Hỗ trợ khác đối với hộ gia đình có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn và các trường hợp khác
1. Ngoài việc hỗ trợ quy định tại các Điều 26, 27, 28, 30, 31 35, 46, 47, 48, 49, 50, 51, 52, 53, 54 và 55 Quy định này, đối với hộ gia đình, cá nhân có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn và các trường hợp khác khi Nhà nước thu hồi đất thì Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi có đất thu hồi đề xuất Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định mức hỗ trợ, biện pháp hỗ trợ khác để bảo đảm có chỗ ở, ổn định đời sống, sản xuất và công bằng, đảm bảo công khai với cộng đồng liên quan đối với người có đất thu hồi; trường hợp hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp mà không đủ điều kiện được bồi thường theo quy định tại Điều 75 của Luật Đất đai thì Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi có đất thu hồi đề xuất Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét hỗ trợ cho từng trường hợp cụ thể.
2. Trường hợp cá nhân bị thu hồi đất thuộc đối tượng được hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất theo quy định tại khoản 5 Điều 4 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/11/2017 của Chính phủ thì thực hiện hỗ trợ khác để hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất cho các nhân khẩu trong hộ gia đình của cá nhân bị thu hồi đất tương tự như quy định tại khoản 3 Điều 26 của Quy định này (trừ các nhân khẩu thuộc đối tượng được hưởng lương thường xuyên; đối tượng đã nghỉ hưu, nghỉ mất sức lao động, thôi việc được hưởng trợ cấp xã hội). Giao Tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư dự án chủ trì, phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã nơi thực hiện dự án, các đơn vị có liên quan chịu trách nhiệm xác định đối tượng được xem xét, hỗ trợ nêu trên.
3. Hỗ trợ khác khi Nhà nước thu hồi đất của hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có công trình, vật kiến trúc gắn liền trên đất như chòi vuông và các công trình phụ khác phục vụ sản xuất nông nghiệp như chuồng, trại chăn nuôi, mương, cống, cửa cống... đã xây dựng trước ngày có Thông báo thu hồi đất thì được hỗ trợ khác bằng 100% mức bồi thường theo quy định tại Điều 39 của Quy định này.