Điều 4. Chủ sở hữu hệ thống thoát nước
1. Ủy ban nhân dân huyện, thị xã, thành phố (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp huyện), Ban Quản lý các khu công nghiệp tỉnh là chủ sở hữu toàn bộ hệ thống thoát nước trên địa bàn do mình quản lý, bao gồm:
a) Hệ thống thoát nước được đầu tư từ nguồn vốn ngân sách Nhà nước, một phần từ ngân sách Nhà nước, vốn nhà nước ngoài ngân sách.
b) Hệ thống thoát nước nhận bàn giao từ các tổ chức kinh doanh, phát triển khu đô thị, khu nhà ở, khu dân cư mới trên địa bàn quản lý.
c) Hệ thống thoát nước nhận bàn giao lại từ các tổ chức, cá nhân bỏ vốn đầu tư để kinh doanh công trình thoát nước có thời hạn trên địa bàn quản lý.
2. Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp xã) là chủ sở hữu hệ thống thoát nước mưa, bao gồm:
a) Hệ thống thoát nước mưa là hạng mục công trình gắn với hệ thống giao thông nông thôn được giao quản lý.
b) Hệ thống thoát nước mưa được giao làm chủ đầu tư hoặc quyết định đầu tư từ ngân sách Nhà nước cấp xã.
3. Các tổ chức, cá nhân kinh doanh, phát triển khu đô thị, khu nhà ở, khu dân cư mới; khu công nghiệp, cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh là chủ sở hữu công trình thoát nước do mình bỏ vốn đầu tư và chịu trách nhiệm quản lý, vận hành hệ thống thoát nước đến khi bàn giao cho chủ sở hữu theo quy định tại Khoản 1 Điều này.