vanban.org

Điều 11. Loại hình và thể thức tác phẩm, công trình xét tặng Giải thưởng — Quyết định 29/2017/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 22/04/2024 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 22/04/2024 Thay thế: 14/2024/QĐ-UBND · 09/04/2024
Bến Tre Ban hành 30/05/2017 Hiệu lực 10/06/2017 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 đời quyết định · 3 phiên bản · 9 năm
Quyết định số 14/2024/QĐ-UBND Ban hành Quy chế xét tặng Giải thưởng Nguyễn Đình Chiểu, tỉnh Bến Tre · 14/2024/QĐ-UBND
Quyết định số 29/2017/QĐ-UBND Ban hành Quy chế xét tặng Giải thưởng Văn học - Nghệ thuật Nguyễn Đình Chiểu tỉnh Bến Tre · 29/2017/QĐ-UBND
22/04/202414/2024/QĐ-UBNDThay thế Đang xem 10/06/2017Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 29/2017/QĐ-UBND › Chương II › Điều 11
Đọc toàn văn

Điều 11. Loại hình và thể thức tác phẩm, công trình xét tặng Giải thưởng

1. Văn xuôi: Tập truyện, tiểu thuyết, tập ký, tập tản văn; công trình dịch thuật, nghiên cứu lý luận, phê bình về văn xuôi. Không xét tiểu phẩm hài, chuyện vui.

2. Thơ: Tập thơ, trường ca, truyện thơ; công trình dịch thuật, nghiên cứu lý luận, phê bình về thơ. Không xét thơ Đường luật, thơ trào phúng.

3. Âm nhạc: Tác phẩm thuộc các thể loại âm nhạc (tân nhạc, cổ nhạc), phải có bản nhạc đối với tân nhạc, bản in đối với cổ nhạc; đối với bài bản cải lương chỉ xét bản vọng cổ và 20 bài bản Tổ ca nhạc tài tử; đối với khí nhạc phải có tổng phổ kèm theo băng, đĩa tiếng; công trình nghiên cứu, lý luận, phê bình về âm nhạc.

4. Nhiếp ảnh: Tác phẩm nhiếp ảnh là nhóm 10 tác phẩm ảnh nghệ thuật đã được trưng bày, triển lãm cấp tỉnh trở lên, in phóng cỡ 25 x 38 cm trở lên; công trình nghiên cứu, lý luận, phê bình về nhiếp ảnh.

5. Múa: Tác phẩm thuộc các loại hình múa đã được công bố từ 3 năm trở lên, có độ dài từ 7 phút trở lên (vở múa, kịch múa, các thể loại múa độc lập), phải kèm theo băng hoặc đĩa hình của một tác phẩm hoàn chỉnh (chỉ xét giải thưởng đối với tác giả kịch bản và biên đạo); công trình nghiên cứu, lý luận, phê bình về múa.

6. Mỹ thuật: Tác phẩm thuộc các loại hình mỹ thuật (hội họa, đồ họa, mỹ thuật ứng dụng, nghệ thuật trang trí, điêu khắc, tượng đài, tranh hoành tráng); tác phẩm điêu khắc, tác phẩm tượng đài; công trình nghiên cứu, lý luận, phê bình về mỹ thuật. Không nhận xét giải thưởng tranh vui, tranh phê bình.

- Hội họa, đồ họa, mỹ thuật ứng dụng, nghệ thuật trang trí: Mỗi tác giả gửi từ 3 đến 5 tranh đã được trưng bày, triển lãm cấp tỉnh trở lên (cỡ tranh 40 x 60cm trở lên, có lồng khung).

- Ký họa: Chỉ xét tác phẩm ký họa trong giai đoạn 1945 – 1975 và sự cống hiến của tác giả.

- Điêu khắc: Mỗi tác giả gửi 3 tác phẩm đã được trưng bày, triển lãm cấp tỉnh trở lên.

- Tượng đài, tranh hoành tráng: Tác giả hoặc nhóm tác giả gửi một công trình đã đưa vào sử dụng từ 3 năm trở lên bằng ảnh chụp không gian 3 chiều.

7. Văn nghệ dân gian: Tác phẩm; công trình sưu tầm; công trình dịch thuật, nghiên cứu, lý luận, phê bình về văn học, nghệ thuật dân gian.

8. Sân khấu: Kịch bản sân khấu được in thành sách hoặc được dàn dựng và công diễn hoặc được ghi hình, ghi âm và được công bố trên Đài phát thanh, truyền hình cấp tỉnh trở lên (chỉ xét giải thưởng đối với tác giả kịch bản và đạo diễn); công trình nghiên cứu, lý luận, phê bình về sân khấu.

9. Điện ảnh: Phim truyện, phim truyện truyền hình được công chiếu trên Đài Truyền hình cấp tỉnh trở lên (chỉ xét giải thưởng đối với tác giả kịch bản và đạo diễn); công trình nghiên cứu, lý luận, phê bình về điện ảnh.

10. Kiến trúc: Công trình kiến trúc thuộc sở hữu Nhà nước từ cấp tỉnh trở lên, đã sử dụng từ 3 năm trở lên; Gồm các bản vẽ thiết kế cho một công trình, bản vẽ phối cảnh hoặc mô hình tổng thể, ảnh chụp nội ngoại thất đã thực hiện và đưa vào sử dụng có hiệu quả (cỡ ảnh 30 x 45cm trở lên); công trình nghiên cứu lý luận, phê bình về kiến trúc.