Điều 4. Định mức hỗ trợ vốn đầu tư
a) Mức vốn hỗ trợ đầu tư từ ngân sách nhà nước cho từng xã, cho từng công trình áp dụng giai đoạn 2012-2015 như sau:
- Riêng năm 2012: Ngân sách tỉnh hỗ trợ trực tiếp bằng xi măng để các huyện, thành, thị phân bổ cho các xã xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn mới.
- Từ năm 2013-2015: Ngân sách nhà nước hàng năm hỗ trợ vốn đầu tư bình quân tối thiểu 02 tỉ đồng/ năm/1xã điểm; tối thiểu 0,6 tỉ đồng/năm/1xã còn lại (Ngoài kinh phí trực tiếp từ Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới). Trong đó:
+ Ngân sách tỉnh hỗ trợ 80% cho các huyện Võ Nhai, Định Hoá, Phú Bình;
+ Ngân sách tỉnh hỗ trợ 70% cho các huyện Đại Từ, Phú Lương, Đồng Hỷ;
+ Ngân sách tỉnh hỗ trợ 60% cho huyện Phổ Yên;
+ Ngân sách tỉnh hỗ trợ 50% cho thành phố Thái Nguyên, thị xã Sông Công;
b) Số vốn hỗ trợ đầu tư từ ngân sách nhà nước (Ngân sách tỉnh; ngân sách huyện, thành, thị; ngân sách xã) không vượt quá 80% tổng dự toán công trình được cấp có thẩm quyền phê duyệt (Không tính chi phí đền bù, giải phóng mặt bằng nếu có). UBND các huyện, thành phố, thị xã căn cứ vào điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương trình Hội đồng nhân dân cùng cấp phê duyệt tỷ lệ hỗ trợ vốn cho từng loại công trình ở từng xã, nhưng không vượt quá mức hỗ trợ quy định trên. Trường hợp đặc biệt thì thống nhất với Thường trực Hội đồng nhân dân cùng cấp phê duyệt và báo cáo lại HĐND tại kỳ họp gần nhất.
- Phần vốn còn lại để hoàn thành công trình theo quyết toán được duyệt, Uỷ ban nhân dân xã có trách nhiệm huy động từ nhân dân vùng hưởng lợi, doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trên địa bàn và nguồn vốn hợp pháp khác để đầu tư xây dựng công trình.
c) Giai đoạn II (2016-2020): Định mức hỗ trợ từ ngân sách nhà nước cho từng xã, từng công trình sẽ ban hành sau.