Điều 8. Quản lý, vận hành khai thác công trình
1. Các tổ chức, doanh nghiệp tham gia góp vốn đầu tư xây dựng, quản lý, vận hành, khai thác công trình được hưởng các chế độ ưu đãi và thực hiện các nghĩa vụ tài chính với Nhà nước theo quy định của pháp luật, được cụ thể bằng phương án quản lý, khai thác, kinh doanh được Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt.
2. Phần kinh phí hỗ trợ từ ngân sách Nhà nước hoặc có nguồn gốc từ ngân sách Nhà nước cho đầu tư xây dựng, cải tạo, sửa chữa, nâng cấp, các công trình cấp nước sạch nông thôn nói trên về nguyên tắc phải hoàn trả ngân sách thông qua nộp khấu hao cơ bản theo quy định của Bộ Tài chính; phần lãi thu được từ việc kinh doanh nước sạch phân chia theo tỷ lệ góp vốn, doanh nghiệp nộp ngân sách phần lãi tương ứng với nguồn vốn ngân sách.
3. Giá thành nước sạch phải được tính đúng, tính đủ các yếu tố chi phí hợp lý trong quá trình sản xuất, phân phối, thuế và lợi nhuận; Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định giá tiêu thụ nước sạch theo quy định hiện hành. Trường hợp giá tiêu thụ nước sạch quyết định (hoặc phê duyệt) thấp hơn phương án giá nước sạch do các đơn vị cấp nước lập đã được Sở Tài chính, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thẩm định thì phần chênh lệch giá nước hàng năm Uỷ ban nhân dân tỉnh xem xét, đối trừ vào khoản nộp khấu hao cơ bản theo hướng phục vụ trở lại cho hoạt động cấp nước và tạo nguồn sửa chữa thường xuyên cho công trình.
4. Khi đưa công trình vào khai thác, doanh nghiệp phải xây dựng phương án quản lý, khai thác, kinh doanh trình Sở Tài chính thẩm định và thực hiện theo phương án được duyệt.