Điều 7. Xử lý vi phạm chính sách dân số
1. Đối với các cơ quan, đơn vị, tổ chức:
Nếu trong năm có người vi phạm sinh con thứ ba trở lên sẽ xem xét không được công nhận các danh hiệu thi đua khen thưởng và không công nhận đơn vị văn hoá. Đối với các tổ chức Đảng, Đoàn thể có người vi phạm sinh con thứ 3 trở lên, đề nghị xem xét không công nhận các danh hiệu theo quy định của Đảng, Đoàn thể.
2. Đối với thôn, bản, tổ dân phố, khu vực, xã, phường, thị trấn:
Xét công nhận đơn vị đạt chuẩn văn hóa | Không xét công nhận đơn vị đạt chuẩn văn hóa | ||
Đối với thôn, bản có tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên của năm trước ở mức | Đối với tổ, khu vực có tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên của năm trước ở mức | Đối với thôn, bản có tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên của năm xét công nhận | Đối với tổ, khu vực có tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên của năm xét công nhận |
| Dưới 12% | Dưới 7% | Tăng trên mức 12% | Tăng trên mức 7% |
| Từ 12% đến 20% | Từ 7 đến 15% | Giảm dưới 0,5% | |
| Trên 20% | Trên 15% | Giảm dưới 1% | |
3. Đối với gia đình: Nếu trong năm có người vi phạm sinh con thứ ba trở lên thì không công nhận gia đình văn hoá.
4. Đối với cá nhân:
a) Cá nhân là nhân dân ở các xã, phường, thị trấn:
- Nhân dân các xã, phường, thị trấn (gọi tắt là xã) cần tự nguyện và cam kết thực hiện tốt chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình được quy định trong hương ước, quy ước văn hóa của thôn, bản, tổ dân phố, làng, xã và quy chế dân chủ ở cơ sở.
- Nếu vi phạm sinh con thứ ba trở lên thì xử lý như sau:
+ Phải kiểm điểm trước nhân dân trong thôn, bản, tổ dân phố; Có trách nhiệm đóng góp vào quỹ phúc lợi xã hội của thôn, bản, tổ dân phố. Mức đóng góp cụ thể được nhân dân bàn bạc thống nhất quy định trong hương ước, quy ước văn hóa hoặc quy chế dân chủ ở cơ sở đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
+ Không được ứng cử, đề cử vào các cơ quan dân cử trong các nhiệm kỳ kế tiếp.
b) Cá nhân là cán bộ, công chức, viên chức, người lao động thuộc các cơ quan, đơn vị, tổ chức được quy định tại Điều 2 khi vi phạm sinh con thứ ba trở lên thì không được xem xét các danh hiệu thi đua, không được hưởng các khoản thưởng trong năm vi phạm, đồng thời phải chịu hình thức xử lý kỷ luật như sau:
b1) Trường hợp sinh con thứ ba
- Đối với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý thì xử lý kỷ luật bằng hình thức khiển trách, không được đề cử, ứng cử, bổ nhiệm vào các chức vụ lãnh đạo, quản lý trong thời hạn là 05 (năm) năm kể từ khi quyết định kỷ luật có hiệu lực. Đối với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý thì xử lý kỷ luật bằng hình thức khiển trách, không đề cử, ứng cử, bổ nhiệm vào các chức vụ lãnh đạo, quản lý cao hơn trong thời hạn là 05 (năm) năm kể từ khi quyết định kỷ luật có hiệu lực.
- Đối với công chức đang trong thời gian tập sự thì không bổ nhiệm chính thức vào ngạch công chức (hủy bỏ quyết định tuyển dụng đối với người tập sự). Đối với trường hợp là viên chức, người lao động đang thực hiện chế độ tập sự, hợp đồng làm việc có thời hạn thì chấm dứt hợp đồng làm việc.
b2) Trường hợp sinh con thứ tư
- Đối với cán bộ, công chức, viên chức và người lao động không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý thì xử lý kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo, không được đề cử, ứng cử, bổ nhiệm vào các chức vụ lãnh đạo, quản lý trong thời hạn là 05 (năm) năm kể từ khi quyết định kỷ luật có hiệu lực.
- Đối với cán bộ, công chức, viên chức giữ các chức vụ lãnh đạo, quản lý thì xử lý kỷ luật bằng hình thức cách chức, không ứng cử, đề cử và không bố trí vào chức vụ tương đương hoặc cao hơn trong thời hạn là 05 (năm) năm kể từ khi quyết định kỷ luật có hiệu lực.
b3) Trường hợp sinh con thứ năm trở lên
Đối với cán bộ, công chức, viên chức và người lao động bao gồm cán bộ giữ các chức vụ lãnh đạo, quản lý thì xử lý kỷ luật bằng hình thức cho thôi việc hoặc chấm dứt hợp đồng lao động.
b4) Trường hợp vi phạm mà cả vợ, chồng đều là cán bộ, công chức, viên chức và người lao động thì xử lý cả hai. Nếu người chồng (vợ) ở cơ quan, tổ chức, địa phương khác thì cơ quan, tổ chức, địa phương bên vợ (chồng) thông báo cho cơ quan, tổ chức, địa phương bên chồng (vợ) biết để kết hợp xử lý nghiêm túc người chồng (vợ).
Khi vi phạm chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình việc xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động là nam giới chậm nhất trong vòng 03 tháng kể từ khi vợ sinh con, đối với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động là nữ nghỉ thai sản, đang nuôi con nhỏ thì xem xét xử lý kỷ luật sau khi con đủ 12 tháng tuổi.
c) Đối với đại biểu dân cử nếu sinh con thứ ba trở lên thì đề nghị cấp có thẩm quyền xem xét bãi nhiệm và không được ứng cử, đề cử trong các nhiệm kỳ kế tiếp.
5. Nếu người vi phạm chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình là đảng viên, đoàn viên, hội viên ngoài hình thức xử lý như trên, đề nghị tổ chức Đảng, Đoàn, Hội xem xét có hình thức kỷ luật theo quy định của tổ chức Đảng, Đoàn, Hội.
6. Thủ trưởng cơ quan, đơn vị, tổ chức, chủ tịch Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các xã, phường, thị trấn nếu để tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên ở đơn vị, địa phương mình tăng liên tục trong 02 năm liền hoặc dung túng, bao che, xử lý chậm, xử lý không nghiêm hoặc không xử lý người vi phạm chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình thì không xem xét thi đua và tùy mức độ vi phạm có hình thức xử lý kỷ luật phù hợp.