Điều 7. Thành lập Hội đồng kỷ luật
1. Thẩm quyền thành lập Hội đồng kỷ luật:
Chủ tịch UBND cấp trên trực tiếp quyết định thành lập Hội đồng kỷ luật để tư vấn việc áp dụng hình thức kỷ luật đối với cán bộ vi phạm theo đề nghị của Sở Nội vụ (đối với cấp huyện), Phòng Nội vụ (đối với cấp xã).
2. Trường hợp cán bộ bị xem xét xử lý kỷ luật khi đã có kết luận về hành vi vi phạm của cấp ủy, tổ chức Đảng theo quy định phân cấp quản lý cán bộ, hoặc cán bộ phạm tội bị phạt tù mà không được hưởng án treo thì không thành lập Hội đồng kỷ luật.
3. Thành phần Hội đồng kỷ luật gồm có 05 thành viên:
a) Chủ tịch Hội đồng là Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch UBND cấp trên trực tiếp.
b) 01 Ủy viên là đại diện lãnh đạo Ban Tổ chức cấp ủy cấp trên trực tiếp.
c) 01 Ủy viên là đại diện lãnh đạo Liên đoàn Lao động cấp trên trực tiếp.
d) 01 Ủy viên là thành viên UBND cùng cấp của cán bộ vi phạm.
đ) 01 Ủy viên kiêm Thư ký Hội đồng là đại diện lãnh đạo cơ quan Nội vụ cấp trên trực tiếp.
e) Không được cử người có quan hệ gia đình như cha, mẹ, con được pháp luật thừa nhận; vợ, chồng; anh, chị, em ruột; chị, em dâu; anh, em rể hoặc người có liên quan đến hành vi vi phạm của cán bộ bị xem xét xử lý kỷ luật tham gia thành viên Hội đồng kỷ luật.
4. Nguyên tắc làm việc của Hội đồng kỷ luật:
a) Hội đồng kỷ luật họp khi có đủ 03 thành viên trở lên tham dự, trong đó có Chủ tịch Hội đồng và Thư ký Hội đồng. Hội đồng kỷ luật kiến nghị áp dụng hình thức kỷ luật thông qua bỏ phiếu kín.
b) Cuộc họp Hội đồng kỷ luật phải được lập thành biên bản, ghi ý kiến của các thành viên dự họp và kết quả bỏ phiếu kiến nghị hình thức kỷ luật áp dụng đối với cán bộ vi phạm.
c) Trong thời gian hoạt động, Hội đồng kỷ luật được sử dụng con dấu của UBND cấp trên trực tiếp và tự giải thể sau khi hoàn thành nhiệm vụ.