Điều 20. Phối hợp đề xuất điều chỉnh kết quả rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật
1. Các trường hợp điều chỉnh kết quả rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật
Kết quả rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật được điều chỉnh trong các trường hợp sau đây:
a) Phát hiện sai sót về kết quả rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật.
b) Phát sinh căn cứ rà soát văn bản mới mà cần thiết phải điều chỉnh kết quả rà soát văn bản quy phạm pháp luật.
c) Điều chỉnh hình thức xử lý, thời hạn trình xử lý văn bản được rà soát, hệ thống hóa hoặc điều chỉnh các nội dung khác.
2. Sở, ban, ngành chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh báo cáo Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh hoặc báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét, quyết định điều chỉnh kết quả rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, trừ trường hợp quy định tại khoản 7 Điều 167 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung tại khoản 39 Điều 1 Nghị định số 154/2020/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2020 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật).
Văn bản đề xuất, báo cáo phải nêu rõ lý do điều chỉnh kết quả rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật; kết quả rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật được điều chỉnh; đề xuất giải pháp và thời hạn trình xử lý văn bản.
3. Trường hợp sau khi Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh công bố kết quả hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật mà phát hiện các danh mục văn bản và Tập hệ thống hóa văn bản còn hiệu lực có sai sót, Sở, ban, ngành tiến hành rà soát lại các văn bản thuộc trách nhiệm rà soát, hệ thống hóa của cơ quan mình; gửi thông tin, kết quả rà soát về Sở Tư pháp để tham mưu việc đính chính kết quả hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật.