Điều 9. Quản lý lưu trữ, giao nộp, cung cấp khai thác sản phẩm đo đạc và bản đồ
1. Sở Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm quản lý, lưu trữ các sản phẩm đo đạc và bản đồ sau:
a) Hệ thống điểm đo đạc cơ sở chuyên dụng;
b) Các loại bản đồ địa hình các tỷ lệ trên địa bàn tỉnh;
c) Bản đồ địa chính cơ sở;
d) Bản đồ địa chính;
đ) Bản đồ hành chính cấp tỉnh, huyện, xã;
e) Bản đồ hiện trạng sử dụng đất;
g) Bản đồ quy hoạch sử dụng đất;
h) Các loại bản đồ chuyên đề;
i) Cơ sở thông tin địa lý và hệ thống thông tin địa lý phục vụ cho mục đích chuyên dùng trên địa bàn.
2. Các sản phẩm đo đạc bản đồ ở khoản 1 Điều này sau khi được kiểm tra, nghiệm thu phải giao nộp cho Sở Tài nguyên và Môi trường bản gốc bằng giấy kèm theo dữ liệu số.
3. Sản phẩm đo đạc và bản đồ chỉ được cung cấp, khai thác dưới dạng bản sao hoặc phiên bản. Sở Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm đảm bảo tính pháp lý của bản sao hoặc phiên bản.
Sở Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn cụ thể về quản lý lưu trữ, giao nộp, khai thác thông tin đo đạc và bản đồ.
4. Trung tâm Lưu trữ tỉnh thực hiện việc quản lý, lưu trữ và cung cấp thông tin tư liệu đo đạc và bản đồ chuyên ngành theo phân cấp của cơ quan Nhà nước có chức năng quản lý chuyên ngành.
5. Ấn phẩm bản đồ phải ghi rõ cơ sở pháp lý, cơ sở toán học, nguồn gốc xuất xứ, được cơ quan có thẩm quyền xác nhận mới được lưu hành sử dụng. Các loại bản đồ không có giấy phép xuất bản hoặc chưa được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xác nhận thì không được sử dụng để giải quyết những công việc mang tính pháp lý và treo ở công sở.
6. Tổ chức, cá nhân mọi thành phần kinh tế có quyền sử dụng công trình sản phẩm đo đạc và bản đồ, thông tin, tư liệu đo đạc và bản đồ thuộc quyền sở hữu của Nhà nước vào sản phẩm của mình theo quy định của pháp luật.