Điều 6. Xử lý các trường hợp cụ thể
Phần diện tích đất còn lại của thửa đất có vườn, ao gắn liền với nhà ở sau khi đã xác định diện tích đất ở theo quy định tại các Khoản 1, 2, 3 Điều 5 Quy định này, được xác định mục đích sử dụng như sau:
1. Nếu phần diện tích đất còn lại của thửa đất đã sử dụng vào mục đích đất ở, thì người sử dụng đất phải thực hiện nghĩa vụ tài chính do chuyển mục đích sử dụng đất từ đất nông nghiệp sang thành đất ở theo quy định của pháp luật và được cấp Giấy chứng nhận theo mục đích sử dụng đất ở.
2. Nếu phần diện tích đất còn lại của thửa đất đã sử dụng vào mục đích đất phi nông nghiệp (không phải là đất ở) mà người sử dụng đất đề nghị công nhận là đất ở, thì phải thực hiện nghĩa vụ tài chính do đã chuyển mục đích sử dụng đất theo quy định và được cấp Giấy chứng nhận theo mục đích sử dụng đất ở. Trường hợp người sử dụng đất không đề nghị công nhận là đất ở đối với diện tích còn lại, thì người sử dụng đất phải khôi phục lại nguyên trạng phần diện tích đất còn lại là đất nông nghiệp và xác định rõ ranh giới giữa phần diện tích đất được công nhận là đất ở với phần diện tích đất còn lại để chỉnh lý hồ sơ địa chính. Trường hợp người sử dụng đất vẫn sử dụng phần diện tích đất còn lại theo mục đích đất phi nông nghiệp thì phải thực hiện nghĩa vụ tài chính do đã chuyển mục đích sử dụng đất và được cấp Giấy chứng nhận theo mục đích sử dụng đất phi nông nghiệp.
3. Nếu phần diện tích đất còn lại của thửa đất có hiện trạng là đất nông nghiệp mà người sử dụng đất đề nghị được công nhận là đất ở hoặc đất phi nông nghiệp khác, thì được cấp Giấy chứng nhận theo mục đích đó và phải thực hiện nghĩa vụ tài chính do chuyển mục đích sử dụng đất. Trường hợp người sử dụng đất không đề nghị công nhận là đất ở hoặc đất phi nông nghiệp khác, thì xác định rõ ranh giới giữa phần diện tích đất được công nhận là đất ở và phần diện tích đất nông nghiệp còn lại theo hiện trạng, để chỉnh lý hồ sơ địa chính.