Điều 4. Nguyên tắc xử lý về trách nhiệm bảo vệ rừng
1. Mọi trường hợp rừng bị thiệt hại do phá rừng trái pháp luật, phát, đốt rừng với mức thiệt hại về diện tích và không thực hiện quy định tại các Điều 7, 8, 9 của Quy định này đều phải xem xét trách nhiệm để xử lý kỷ luật theo Quy định này.
2. Một người chỉ phải chịu 01 hình thức kỷ luật về trách nhiệm đối với 01 vụ rừng bị thiệt hại do phá rừng trái pháp luật hoặc do phát, đốt rừng.
3. Trường hợp đang thi hành quyết định kỷ luật về trách nhiệm bảo vệ rừng mà tiếp tục bị xem xét, xử lý kỷ luật thì áp dụng hình thức kỷ luật mới nặng hơn so với hình thức kỷ luật đang thi hành theo quy định.
4. Miễn trừ xử lý trách nhiệm những trường hợp sau:
a) Rừng bị phá, bị phát đốt khi người có trách nhiệm đang trong thời gian nghỉ việc được thủ trưởng cơ quan đơn vị cho phép.
b) Đối tượng phá rừng, phát, đốt rừng với số lượng đông, người có trách nhiệm đã phát hiện kịp thời, vận động, ngăn chặn nhưng đối tượng phá rừng cố ý chống đối, dùng số đông để áp đảo và tiếp tục thực hiện hành vi phá rừng, phát, đốt rừng.
c) Người có trách nhiệm thực hiện đúng nhiệm vụ được giao, kịp thời phát hiện, ngăn chặn, lập biên bản vi phạm phá rừng, phát, đốt rừng và báo cáo với cấp trên trực tiếp để tổ chức ngăn chặn, xử lý nhưng người lãnh đạo trực tiếp đã chậm trễ hoặc làm ngơ để mặc cho hành vi vi phạm tiếp diễn.