vanban.org

Điều 4. Phối hợp trong việc lập biên bản trẻ em bị bỏ rơi và tiếp nhận trẻ em bị bỏ rơi vào Cơ sở nuôi dưỡng trẻ em trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn — Quyết định 26/2014/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 18/10/2019 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 18/10/2019 Thay thế: 17/2019/QĐ-UBND · 08/10/2019
Bắc Kạn Ban hành 11/12/2014 Hiệu lực 21/12/2014 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 3 đời quyết định · 5 phiên bản · 13 năm
Quyết định số 17/2019/QĐ-UBND Ban hành Quy chế phối hợp về giải quyết việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn · 17/2019/QĐ-UBND
Quyết định số 26/2014/QĐ-UBND Ban hành Quy chế phối hợp liên ngành về giải quyết việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn · 26/2014/QĐ-UBND
18/10/201917/2019/QĐ-UBNDThay thế Đang xem 21/12/2014Bản gốcThay thế
Quyết định số 2236/2012/QĐ-UBND Ban hành quy chế phối hợp thực hiện luật nuôi con nuôi trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn · 2236/2012/QĐ-UBND
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 26/2014/QĐ-UBND › Chương II › Điều 4
Đọc toàn văn

Điều 4. Phối hợp trong việc lập biên bản trẻ em bị bỏ rơi và tiếp nhận trẻ em bị bỏ rơi vào Cơ sở nuôi dưỡng trẻ em trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn

1. Người phát hiện trẻ em bị bỏ rơi có trách nhiệm:

a) Tường trình bằng văn bản về việc phát hiện trẻ em bị bỏ rơi.

b) Thông báo ngay cho Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi là Ủy ban nhân dân cấp xã) hoặc Công an xã, phường, thị trấn (sau đây gọi là Công an cấp xã) nơi trẻ em bị bỏ rơi để lập biên bản trẻ em bị bỏ rơi.

Biên bản trẻ bị bỏ rơi phải ghi rõ ngày, tháng, năm, địa điểm phát hiện trẻ bị bỏ rơi; giới tính; đặc điểm nhận dạng; tài sản và các đồ vật khác của trẻ (nếu có); họ, tên, số chứng minh thư nhân dân của người phát hiện trẻ (nếu có); địa chỉ cụ thể của người phát hiện. Biên bản được lập thành 03 bản, một bản lưu tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi lập biên bản, một bản giao cho người hoặc tổ chức tạm thời nuôi dưỡng trẻ (Cơ sở nuôi dưỡng), một bản giao cho người phát hiện trẻ bị bỏ rơi.

2. Ủy ban nhân dân cấp xã nơi trẻ em bị bỏ rơi có trách nhiệm:

a) Tìm người tạm thời nuôi dưỡng trẻ em.

b) Trường hợp không có người nhận tạm thời nuôi dưỡng trẻ em thì Ủy ban nhân dân cấp xã liên hệ với cơ sở nuôi dưỡng trẻ em gần nhất để tiến hành các thủ tục tiếp nhận trẻ em bị bỏ rơi theo thủ tục tiếp nhận đối tượng cần sự bảo vệ khẩn cấp.

c) Trường hợp người tạm thời nuôi dưỡng không còn đủ khả năng tiếp tục nuôi dưỡng, hoặc không còn nguyện vọng tiếp tục tạm thời nuôi dưỡng, hoặc hết thời hạn thông báo tìm cha, mẹ đẻ của trẻ em mà không tìm được cha, mẹ đẻ hoặc không có người trong nước nhận trẻ em làm con nuôi thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi trẻ em bị bỏ rơi lập hồ sơ đề nghị tiếp nhận trẻ em bị bỏ rơi vào Cơ sở nuôi dưỡng trẻ em.

3. Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi lập biên bản có trách nhiệm thông báo trên Đài truyền thanh hoặc Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh để tìm cha, mẹ đẻ của trẻ em. Đài Truyền thanh hoặc Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh có trách nhiệm thông báo miễn phí 03 lần trong 03 ngày liên tiếp các thông tin về trẻ bị bỏ rơi. Hết thời hạn 30 ngày kể từ ngày thông báo cuối cùng, nếu không tìm thấy cha, mẹ đẻ của trẻ em thì người tạm thời nuôi dưỡng trẻ em hoặc Cơ sở nuôi dưỡng trẻ em có trách nhiệm đi đăng ký khai sinh cho trẻ em theo quy định của pháp luật về hộ tịch.