Điều 12. Chế độ thông tin báo cáo
1. Các Sở, ban, ngành thuộc tỉnh có trách nhiệm báo cáo việc công bố, công khai và tình hình thực hiện các thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết với Uỷ ban nhân dân tỉnh (thông qua Sở Tư pháp) 6 tháng và hàng năm hoặc báo cáo đột xuất theo yêu cầu của Uỷ ban nhân dân tỉnh.
Trưởng Phòng Pháp chế, Trưởng đơn vị được giao nhiệm vụ pháp chế tại các Sở, ban, ngành thuộc tỉnh giúp Thủ trưởng đơn vị báo cáo việc công bố, công khai và tình hình thực hiện các thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết.
3. Uỷ ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm báo cáo việc công khai và tình hình thực hiện các thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Uỷ ban nhân dân cấp huyện và Uỷ ban nhân dân cấp xã trên địa bàn với Uỷ ban nhân dân tỉnh (thông qua Sở Tư pháp) theo định kỳ 6 tháng và hàng năm hoặc báo cáo đột xuất theo yêu cầu của Uỷ ban nhân dân tỉnh.
Trưởng Phòng Tư pháp giúp Uỷ ban nhân dân cùng cấp báo cáo việc công khai và tình hình thực hiện các thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết.
3. Uỷ ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm báo cáo việc công khai và tình hình thực hiện các thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết với Uỷ ban nhân dân cấp huyện (thông qua Phòng Tư pháp) theo định kỳ 6 tháng và hàng năm hoặc báo cáo đột xuất theo yêu cầu của Uỷ ban nhân dân cấp huyện.
Công chức Tư pháp - Hộ tịch giúp Uỷ ban nhân dân cùng cấp báo cáo việc công khai và tình hình thực hiện các thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết.
4. Sở Tư pháp có trách nhiệm giúp Uỷ ban nhân dân tỉnh tổng hợp việc công bố, công khai và tình hình thực hiện các thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Uỷ ban nhân dân các cấp trên địa bàn tỉnh, báo cáo Bộ Tư pháp theo quy định tại Điều 35 Nghị định số 63/2010/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 48/2013/NĐ-CP); Chương II Thông tư số 05/2014/TT-BTP.